|
Đừng để người
nghèo bị gạt ra bên lề
Võ Văn Kiệt
(cựu thủ tướng CSVN)
Lời toà soạn: ngày 12/4/2008, các báo trong nước đã
đăng bài của ông Võ Văn Kiệt, cựu thủ tướng của CSVN đề cập đến tình
trạng dân nghèo tại Việt Nam. Bài này đã gây sự chú ý ở trong nước,
tuy rằng ông Kiệt vẫn không dám đưa ra nguyên nhân chính của sự bất
công, nghèo đói này. Chúng tôi đăng lại để rộng đường dư luận. Toà
Soạn.
Kinh tế mấy năm qua vẫn tăng trưởng khá,
nhưng, sau những bão, lụt- thiên tai, cuộc sống của người dân lại
đang phải trải qua những đợt giá cả thiết yếu bất ổn liên tục.
Người nghèo - những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng
bữa, trên thực tế, chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng;
trong khi, chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát
đang diễn ra.
Muốn cho đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng,
chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn
cơ vấn đề dân nghèo. Trong suốt hai thập niên đổi mới, Đảng và Nhà
nước đã có nhiều nỗ lực để “xoá đói giảm nghèo”. Tỷ lệ người nghèo,
tính theo chuẩn mực quốc tế (có mức sống dưới 1 USD/ngày) đã giảm từ
58%, năm 1993, xuống 14,7%, năm 2007. Một số viên chức quốc tế đã
đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam.
Nhưng, những đánh giá ấy chủ yếu dựa trên các báo cáo trong nước, và
chúng ta hiểu, khoảng cách giữa thực tế và báo cáo là còn đáng kể.
Tôi nhớ cách đây không lâu, báo chí phát hiện thêm rất nhiều nhà
tranh vách đất ở một số địa phương mà theo báo cáo thì trước đó đã
“100% ngói hoá”. Mặt khác, cho dù phần lớn dân chúng đã “thoát nghèo”,
chỉ cần sau một mùa bão lụt, sau một đợt rét hại, những thành quả
kinh tế mà những người dân này tần tảo để có, lại gần như bị xoá
sạch.
Tôi vừa đi đến một số vùng như vậy và không khó lắm để thấy, người
nghèo đang chiếm một tỷ lệ lớn thế nào, đang phải sống vất vả ra sao.
Nhìn sang nước bạn
Trước đây, trong một lần tiếp kiến, nhà vua Thái Lan nói với tôi: “Bài
học sai lầm dẫn đến thất bại của nhiều quốc gia là khi công nghiệp
hoá, họ không quan tâm đúng mức hoặc bỏ bê nông thôn, nông nghiệp”.
Tình cảm với nông dân và sự am hiểu về nông nghiệp của nhà Vua khiến
tôi hết sức ấn tượng. Thái Lan có một chế độ khác với Việt Nam,
nhưng họ cũng rất chú trọng “công nghiệp hoá”, và đặc biệt, rất quan
tâm đến nhân dân lao động.
Cách đây không lâu, cựu Thủ tướng Thaksin có được sự ủng hộ của dân
chúng, ngay cả khi ông bị lật đổ và phải đối diện với nhiều cáo buộc
tham nhũng, phải lưu vong. Khi được trở về, ông vẫn được nông dân và
những người Thái khác nhiệt liệt đón mừng, đó cũng là nhờ vào những
chính sách thời kỳ ông làm Thủ tướng thực sự mang lại cuộc sống tốt
hơn cho những người nghèo.
Cam kết lịch sử
Ở Việt Nam, sở dĩ Cách mạng có được nhiều thành tựu, là nhờ, tại
những thời điểm quan trọng nhất của lịch sử, Đảng ta đã đưa ra được
những chủ trương nhắm đúng vào nguyện vọng của các tầng lớp dân
chúng, đặc biệt là dân nghèo.
Chăm lo cho người nghèo hiện nay, không đơn giản chỉ là thực hiện
một cam kết có tính lịch sử, mà còn là bảo vệ tôn chỉ mục đích của
một Đảng cách mạng luôn nhận mình đứng về phía nhân dân. Thực hiện
cam kết đó, không chỉ căn cứ vào những chính sách trực tiếp, mà
trước khi ban hành những chính sách lớn, cần phải phân tích, đánh
giá sâu sắc những tác động của chúng lên các tầng lớp dân nghèo.
Tôi muốn lưu ý ở đây, về quốc sách hàng đầu của đất nước mà chúng ta
đang theo đuổi, đó là quốc sách công nghiệp hoá. Chúng ta chưa có
những đánh giá đầy đủ về tiến trình công nghiệp hoá xảy ra ở các
vùng nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi. Tiến trình này
đúng là đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế, đưa được một số nông
dân vào lao động trong các công xưởng sử dụng lao động đơn giản.
Nhưng, mức tiền công quá thấp mà những nông dân này được trả không
đủ tạo lập vị trí kinh tế cho họ, nói chi đến địa vị chính trị vinh
dự mà chúng ta thường đề cập của “giai cấp công nhân”.
Người nông dân còn chịu thiệt một cách trực tiếp trong quá trình
“công nghiệp hoá”. Mỗi khi có những nhà máy, những khu công nghiệp,
đô thị mọc lên, những phúc lợi xã hội mà sự phát triển mang lại cho
nông dân chỉ chiếm một giá trị rất nhỏ so với lợi nhuận mà đất đai
của nông dân đem lại cho những tầng lớp khác.
“Công nghiệp hoá” theo kiểu tiếp nhận những đầu tư, chủ yếu khai
thác lao động giá rẻ, tuy có giải quyết được công ăn việc làm có
tính nhất thời cho một số lao động thiếu việc làm, về lâu dài, không
thể nào thay đổi địa vị nghèo khó của nông dân. Trong khi đó, sự trả
giá về mặt tinh thần là rất lớn vì đa số những nông dân này đang
phải “ly hương, ly gia” để có việc làm.
Công nghiệp hoá, đô thị hoá của chế độ ta mà không nhất quán quan
điểm, không xuất phát từ người nghèo (số đông người nghèo) thì chúng
ta không tránh khỏi càng làm sâu sắc thêm khoảng cách giữa hai tầng
lớp giàu, nghèo. Công nghiệp hoá, đô thị hoá là một hướng đi cần
thiết nhưng phải cân nhắc lợi ích lâu dài.
Khi trở lại một số địa phương, thăm một số công trình, trong đó, có
những công trình được bắt đầu từ khi tôi còn công tác ở Chính phủ,
tôi rút ra bài học rằng: nếu đô thị hoá hay công nghiệp hoá mà không
cân nhắc đầy đủ sẽ dễ dẫn đến tình trạng các ngôi nhà, làng bản, thị
trấn đặc trưng của các vùng cao dần được thay thế bằng những ngôi
nhà, phố xá chen chúc, hình ảnh vẫn thường thấy ở vùng xuôi.
Khi đó, chúng ta không chỉ gây ra những tổn thất về văn hoá mà còn
đánh mất cả lợi ích kinh tế lâu dài.
Đầu tư phát triển, một mặt, không thể thiếu những giải pháp bảo tồn
tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc văn hoá; mặt khác, phải có
chính sách để người nghèo, đặc biệt là nông dân, bà con các vùng
nông thôn, vùng dân tộc… không bị gạt ra bên lề tiến trình phát
triển, nhất là tiến trình xây dựng các khu đô thị, nhà máy trên làng
bản, ruộng đất lâu đời của họ.
Từ thiện không thay thế được chính sách
Chúng ta nghiên cứu và giảng dạy khá đầy đủ về sự dã man của tư bản
trong giai đoạn “tích lũy tư bản hoang dã”. Nhưng chúng ta đã chưa
cập nhật để thấy khả năng tự điều chỉnh ở các quốc gia này. Phúc lợi
cho người lao động, người nghèo ở nhiều nước tư bản hiện cao đến mức
mà tôi nghĩ là các nhà lý luận rất cần tham khảo.
Kinh nghiệm sau hơn hai thập kỷ đổi mới cho thấy, không thể có “công
bằng” đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo (như chúng ta
thời bao cấp). Cũng không thể “cào bằng” bằng cách “điều tiết” hết
lợi ích của người giàu để chia cho người nghèo.
Xã hội sẽ không phát triển nếu không có chính sách kích thích một bộ
phận dân chúng vươn lên làm giàu chính đáng. Nhưng, nếu không có
chính sách hợp lý và không chống được tham nhũng để quá trình “tích
lũy tư bản” diễn ra như thời “hoang dã” (nhờ hối mại quyền lực và có
được đặc quyền khai thác tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai),
thì không bao giờ tạo ra được công bằng và sự phát triển bền vững.
Có lẽ, chưa có một quốc gia nào bày tỏ sự quan tâm đến người nghèo
một cách thường xuyên như ta. Thậm chí, với nhiều người, nó đã dần
trở thành một thứ khẩu hiệu. Sự quan tâm đến người nghèo bằng các
phương tiện truyền thông, qua các bài phát biểu, cuộc nói chuyện hay
bài viết, tôi nghĩ, là đã quá đủ.
Nhưng, chúng ta hãy nhìn vào các số liệu điều tra sau đây của UNDP
để thấy, chúng ta đã thực sự làm được những gì: Nhóm 20% những người
giàu nhất ở Việt Nam hiện đang hưởng tới 40% lợi ích từ các chính
sách an sinh xã hội của nhà nước; trong khi, nhóm 20% những người
nghèo nhất chỉ nhận được 7% lợi ích từ nguồn này.
Gần như thường xuyên, chúng ta chứng kiến những hoạt động quyên góp,
đấu giá… được tổ chức rầm rộ trên truyền hình, phần lớn những hoạt
động ấy do UBTU MTTQ Việt Nam tổ chức. Tôi không phản đối cách làm
đó, nhưng tôi nghĩ, công việc ấy để cho các nhà hoạt động từ thiện
chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp các nhà hảo tâm làm thay thì
tốt hơn rất nhiều.
Theo kinh nghiệm của tôi, những người có nguyện vọng từ thiện đúng
nghĩa, thường chọn cách làm từ thiện trực tiếp hoặc thông qua các tổ
chức từ thiện chuyên nghiệp, vì họ tin, đồng tiền đi qua các tổ chức
như thế sẽ không bị xà xẻo trên đường đến với người nghèo.
Những người muốn giúp đỡ người nghèo thay vì dùng tiền bạc để mua
danh và khoa trương, thường không chọn cách làm từ thiện theo kiểu
“đấu giá” ồn ào trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Có tạo được những nên tảng pháp lý cho xã hội dân sự phát triển, để
những tổ chức từ thiện đúng nghĩa có thể xuất hiện, thì tình cảm
cộng đồng mới thức dậy một cách chân thành, người nghèo từ đó mới
được phần nào chia sẻ. Tuy nhiên, các hoạt động từ thiện chỉ có thể
khơi gợi một nguồn lực khác của xã hội chứ không thể thay thế các
chính sách của nhà nước. Sứ mệnh chính trị của những tổ chức như Mặt
trận, vì vậy, lớn hơn là việc quyên góp, xin – cho, rất nhiều.
Mặt trận có thể tham gia “xoá đói giảm nghèo” một cách hiệu quả hơn,
thông qua việc đề xuất và phân tích chính sách, sao cho: lợi ích từ
các nguồn tài nguyên quốc gia được phân phối hợp lý cho các chủ nhân
của nó; người nghèo được hỗ trợ để có thể tiếp cận được với những
quyền lợi căn bản nhất. Đầu tư của nhà nước vào các công trình phúc
lợi y tế, giáo dục, văn hoá…, vì thế, không nên tập trung ở các đô
thị, nơi mà các nguồn lực khác của xã hội có thể tham gia.
Nhà nước cũng cần sớm hoàn thiện các thiết chế như: bảo hiểm y tế,
quỹ trợ cấp, tín dụng giáo dục… cho người nghèo ở cả đô thị và nông
thôn.
Tạo điều kiện cho người có năng lực, có khát vọng có thể làm giàu
tối đa nhưng cũng không bỏ mặc những người không có khả năng tự bươn
chải. Chấp nhận một khoảng cách không thể tránh khỏi giữa tầng lớp
những người giàu và nghèo. Nhưng, phải nâng được mặt bằng mức sống
của người nghèo lên, để họ có thể tiếp cận được những phúc lợi tối
thiểu về nhà ở, về y tế, giáo dục; để không có người dân nào không
được chữa bệnh, không được đi học chỉ bởi họ nghèo.
Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt |