Đồng Bào Phẫn Nộ Biểu Tình Chống CSVN Dâng Đất

Hơn hai ngàn người tự phát kéo nhau biểu tình trước khu Phước Lộc Thọ và chợ 99 trên đường Bolsa, thủ đô tị nạn Quận Cam
Little Saigon (SaigonUSA) – Vào khoảng 1 giờ chiều hôm chủ nhật 20/1/02, hàng ngàn đồng bào đã lũ lượt kéo nhau ra biểu tình tại khu vực hai bên đại lộ Bolsa, trước chợ 99 và khu thưong mại Phưóc Lộc Thọ để phản đối việc Hà Nội đã lén lút cắt đất cho Trung Quốc.

Tất cả chuyện ký kết dâng đất nầy, tuy đã xảy ra từ 2 năm nay, nhưng mãi cho tới gần đây mới lọt ra ngoài khi hai nước thi hành nghi thức “đặt cột mốc ranh giơí.” Tổng cộng, ngưòi ta được biết CSVN đã cắt khoảng 790 cây số vuông cho Trung Quốc, nhưng thực sự bao nhiêu đất bị mất, thì có thể nhiều hơn, khó ai biết được một cách chính xác. Bị mất theo phần đất nầy là những địa danh lịch sử như Ải Nam Quan, Phố Đồng Đăng, núi Tô Thị, v.v..

Từ trước tới nay, mọi ngưòi Việt Nam đều thuộc lòng câu nói đất nưóc Việt Nam kéo dài “từ Aûi Nam Quan tới Mũi Cà Mau.” Nay CSVN đã vội vàng sửa lại, “đất nước Việt Nam bắt đầu từ cột mốc cây số 0” để mong chạy tội bán nưóc của họ.

Theo sự thú nhận của CSVN sau khi bại lộ thì hai nước anh em XHCN nầy dã ký một hiệp ước về biên giới vào ngày 30-12-1999, và hiệp ưóc về lãnh hải vào ngày 25-15-2000. Hai hiệp ưóc nầy đã thực hiện chủ tâm thần phục và làm hài lòng sự đòi hỏi của đàn anh khổng lồ phưong Bắc, từng làm quan thầy cho CSVN trong thời gian chiến tranh xâm lăng miền Nam.

Mục đích và lý do của việc nhượng đất nầy không hề được giải thích vì bất cứ lý do gì, nhưng mọi ngưòi đều hiểu là CSVN triều cống để cầu mong được Trung Quốc bảo đảm cho CSVN được tồn tại trên ngai vàng cai trị đất nước.

Từ xưa tới nay, ngưòi ta thưòng nói bọn “buôn dân bán nưóc” để chỉ trích những ai phản bội lại dân tộc, nhưng thưòng nói tới nghĩa bóng. Nay thực sự là nghiã đen để áp dụng cho hành động phản bội tổ quốc và tiền nhân của tập đoàn CSVN buôn dân bán nưóc.

Toàn thể ngưòi Viẹt khắp nơi, 3 triệu ngưòi trên thế giới tự do, cùng với 78 triệu ngưòi trong nưóc, đều một lòng phẫn nộ trưóc hành động tội lỗi nầy của CSVN. Đồng bào khắp nơi đã đồng lọat lên tiếng, viết tuyên cáo, tổ chức biểu tình, hội thảo để ghi lại lịch sử hành động bạo ngườc nầy của CSVN.

Chưa bao giờ trong lịch sử 4000 dân tộc Việt Nam mà có một chính phủ, một chế độ mà đã bán dân ra biển, tổ chức cho dân ra biển để vơ vét vàng bạc, đã đưa dân đi làm lao nô bên đông âu để trả nợ quan thầy, và nay đã cắt đất hiến dâng cho đàn anh. Quả thật chưa có gì nhơ nhớp và ghê gớm cho bằng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

Tuy vậy, cha ông chúng ta đã từng khẳng định rõ ràng:
“Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại Thiên Thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư.”
Thế nào những ai xâm phạm tới đất nước tổ quốc, rồi sẽ chuốc lầy thất bại như lời sấm truyền của Lý Thường Kiệt vậy.
Tuần tới vào ngày chủ Nhật 27/1/02 tại Oakland đồng bào có tổ chức một buổi hội thảo gồm các diển giả GS Hà Mai Phương, GS Nguyễn Văn Canh,và LS Nguyễn Hữu Thống, tại hội Người Việt East Bay, số 1218 Miller Av (gần đường 23th Ave & 14th St), Tel: 510-797-6672, mời đồng hương tham dự đông đủ.
SaigonUSA News, San Jose

THƯ KHÁNG NGHỊ VỀ HIỆP ƯỚC BIÊN GIỚI TRUNG-VIỆT

Ngày 19 tháng 1 năm 2002
Kính Gửi: Ngài Kofi Annan

Tổng Thư Ký LHQ

Kính thưa Ngài,

Nhân danh một thành viên trong cộng đonảg nhân loại và nhân danh một người tù lương tâm Việt Nam, tôi gửi đến Ngài bức thư này để phản kháng hai hiệp ước biên giới trên bộ và trên biển Trung-Việt do nhà cầm quyền Trung Hoa và Việt Nam ký kết ngày 30/12/1999 và ngày 25/12/2000, và bắt đầu cắm mốc biên giới trên đất ngày 27/12/2001. Hai hiệp ước này đe dọa nghiêm trọng tới danh dự và quyền lợi của dân tộc Việt Nam và tới hòa bình ổn định trong khu vực Đông Nam Á. 

Hai hiệp ước biên giới Việt-Trung vừa được ký kết hoàn tòan đi ngược lại quyền lợi của nhân dân Việt Nam vì lần đầu tiên trong lịch sử hai hiệp ước này đã ảnh hưởng tới đường biên giới truyền thống của hai nước Trung Hoa và Việt Nam. Nhiều địa điểm mà hàng ngàn năm qua đã trở thành những phần lãnh thổ và lãnh hãi thân thương của nhân dân Viêt Nam nay đã nằm sâu trong lãnh thổ Trung Quốc. 

Hai hiệp ước biên giới này được ký kết bởi ban lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản không được nhân dân bầu lên một cách dân chủ và tự dọ Vài người trong số họ không giữ ngay cả một chức trách gì trong chính quyền. Quốc Hội, cơ quan nghe nói đã thông qua hiệp ước thứ nhất (tháng 6 năm 200), cũng không được bầu lên qua những cuộc bầu cử dân chủ, tự do và công bằng, do đó không đại diện cho nhân dân Việt Nam. Ngay cả những thể thức được ấn định trong Hiến Pháp cũng không được thực thi, cụ thể, hai hiệp ước không hề được đem ra thảo luận trên báo chí hay trong các phiên họp của Quốc Hội, và cũng không hề được ấn hành. 

Ngay chính bản Hiến Pháp cũng không được soạn thảo và ban hành theo đúng các thủ tục và tiên trình dân chủ, bao gồm tất cả các bản Hiến Pháp đã có của các năm 1960, 1976, 1980, 1992 và hiện nay. Người dân bị tước đoạt các quyền dân chủ căn bản, nhất là quyền tín nhiệm và bãi nhiệm những người lãnh đạo đất nước. Ngày nay họ lại bị tước đoạt ngay cả quyền có ý kiến về hai hiệp ước biên giới mà qua đó ban lãnh đạo cộng sản đã đem nhiều phần lãnh địa và lãnh hải quan trọng của tổ quốc ra đổi lấy độc quyền chính trị. 

Nhân dịp này, tôi xin phép được lưu ý Ngài về sự kiện là ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam, kể từ thập niên 1950 tới nay đã thường xuyên vi phạm và ngay cả xé bỏ các hiệp ước và công ước quốc tế mà họ đã ký kết: Hiệp Định Genève 1954, Hiệp Định Trung Lập Lào 1960, Hiệp Định Ba Lê 1973 (đươc LHQ và 13 nước ký bảo đảm nhưng miền Bắc Việt Nam vẫn xé bỏ va dùng quân sự xâm chiếm miền Nam tháng 4 năm 1975), Công Ước  Quốc Tế về Các Quyền Văn Hóa, Xã Hội và Kinh tế, và Công Ước Quốc T.ế Về các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà họ đã ký kết năm 1982. 

Những người cầm quyền không do dân bầu, bất hợp pháp, v phạm luật pháp quốc tế như thế không có quyền đại diện nhân dân và quốc gia Việt Nam ký kết hiệp ước biên giới nhượng lãnh thổ cho bất cứ nước nàọ Ngay cả trong những nước dân chủ những hiệp ước quan trọng như thế nếu không được đưa ra thảo luận công khai và trưng cầu dân ý cũng không có giá trị pháp lý. Do đó hai bản hiệp ước biên giới Việt-Trung vừa ký kết là hoàn toàn vô giá trị đối với nhân dân Việt Nam và bất hợp pháp đối với công pháp quốc tế. Nhân dân Viêt Nam không công nhận và không có trách nhiệm phải thi hành hai hiệp ước nàỵ

Kính thưa Ngài Tổng Thư Ký,

Trong diễn văn nhận giải thưởng Nobel Hoà Bình năm 2001, Ngài đã tuyên bố nếu các chính phủ coi thường pháp trị và vi phạ dân quyền thì "họ trở thành mối đe dọa không phải chỉ cho nhân dân họ, mà cho cả những nước láng giềng và đúng ra, cho toàn thế giới" Ngài cũng cho rằng hiện nay chúng ta cần có những chính quyền "hợp pháp, dân chủ". Ngài cũng ví việc "cứu một co bé Afghanistan" là cứu chính con ngườị Tôi cảm phục và hoàn tòan chia xẻ quan điểm rộng lớn và nhân bản đó của Ngài và mong rằng quan điểm đó sẽ đem lại lợi ích cho mọi dân tộc. Quan điểm của Ngài, nếu được thực hiện, sẽ ảnh hưởng lớn la tới 80 triệu nhân dân Việt Nam mà hơn một thế kỷ nay vẫn hằng trông đợi sớm thoát khỏi cảnh sống nghèo khổ, không có tự do, mất nhân phẩm và thoát khỏi một chế độ không dân chủ, bất hợp pháp. 

Kể từ ngày thành lập, LHQ đã đạt được những thành quả đáng kể trong việc gìn giữ ổn định, hoà bình và công lý trên toàn thế giớị Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Ngài, LHQ đã đóng góp ngày càng có hiệu quả hơn vào việc xây dựng một đời sống tự do và nhân phẩm tại nhiều quốc gia trên thế giớị Tôi hiểu rằng thế giới còn nhiều khó khăn và nhiều vấn đề nghiêm trọng chưa giải quyết được, và Ngài cùng các đồng sự của Ngài tại LHQ cần nhiều kiên nhẫn để tiếp cận các vấn đề thế giới một cách khéo léo và tế nhị. Tuy nhiên nhân loại đã tiến bô đủ, thời gian đã bị lãng phí nhiều, tôi tin rằng đã đến lúc để cho mỗi con người đuợc quyền có cơ hội sống trong no ấm, hoà bình tự do và nhân phẩm. Tôi tin rằng nếu mọi người có lương tri trên thế giới quyết tâm ngăn chặn những hành động lạm dụng quyền lực vi phạm tự do nhân phẩm của người dân và vi phạm công pháp quốc tế thì chúng ta sẽ bảo vệ được con người và nhân loại sẽ được sống trong hòa bình và công lý. 

Chính trong tinh thần đó mà tôi, cùng với đồng bào của tôi, đã phản đối hai hiệp ước biên giới Trung-Việt do các chính quyền bất hợp pháp, không do dân cử ký kết, hoàn toàn không có sự chấp thuận của nhân dân và tác hại đến danh dự và quyền lợi của quốc gia chúng tôị. 

Tôi tin rằng cũng chính trong tinh thần đó mà Ngài đã khẳng định trong diễn văn nhận giải thưởng Nobel Hoà Bình rằng một trong ba mục tiêu ưu tiên của LHQ trong thời gian tới là xúc tiến dân chủ trên toàn thế giớị Tôi hoan ngênh mục tiêu này và tin tưởng rằng Ngài sẽ hỗ trợ cho nhân dân chúng tôi sớm thiết lập được nền dân chủ tại Việt Nam vì tự do nhân phẩm của mỗi người dân Việt Nam hôm nay và ngày mai và vì hoà bình ổn định trong khu vực.

Trân trọng cám ơn và kính chào Ngài
  Đoàn Viết Hoạt
  Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam
  Phụ bản gửi: Các Nhà Lãnh Đạo các Chính Phủ
  Chủ Tịch Uỷ Ban Aạu Châu
  Tổng Thư  Ký ASEAN
 

VIỆC THI HÀNH HIỆP ƯỚC BIÊN GIỚI 1999

Nguyễn văn Canh
18 tháng 1 năm 2002
Ngày 27 tháng 12 năm 2001, Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt cộng Lê công Phụng, cùng với Đại Sứ Trung Cộng tại Việt nam đến thị trấn Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh làm lễ xây MỐC đánh dấu biên giới mới dựa theo Hiệp Ước mà Việt Cộng và Trrung cộng ký kết tháng 12 năm 1999. Tại đây, Phụng tuyên bố rằng hai bên đã đồng ý hoàn tất công tác trắc địa, phân định biên giới, dựng các mốc đánh dấu biên giới giữa 2 quốc gia càng sớm càng tốt. Như thế, sẽ giúp thiết lập một biên giới hoà bình, hữu nghị và ổn cố lâu dài[1]. Phiá Việt nam bắt đầu công tác phận định lãnh thổ này bằng cách dựng lên một cột trụ bằng đá granite cao 2.2m, rộng 50 cm ngay tại cổng biên giới Móng Cáị Đây là cột MỐc đầu tiên trong số 1,500 mốc sẽ được đặt dọc biên giới trên một khoảng dài 1,350 cây số[1], trong tổng số 2363 cây số biên giới giữa 2 quốc giạ Cùng lúc đó, tại thị trấn Đông Hưng thuộc Trung Hoa, bên kia Móng Cái, Thứ trưởng Ngoại Giao Trung Cộng là Wang Yi đến dự một buổi lễ tượng tự. Wang ca tụng rằng mối quan hệ Việt-Hoa đã phát triển tốt đẹp mấy năm vừa qua, rằng công tác phân định lãnh thỗ sẽ hoàn tất trong vòng 3 năm. Wang nhấn mạnh rằng công tác này là nền tảng cho việc duy trì an ninh, phát triển phồn vinh và ổn cố vùng biên giới[1].

Tháng 12, 1999, Việt cộng và Trung cộng đã ký Hiệp Ước Biên Giớị Và Quốc Hội Việt nam đã phê chuẩn Hiệp ước ấy vào tháng 6-2000.
Lấn chiếm đất Cho đến ngày hôm nay, Đảng Cộng Sản Việt nam (VC) không tiết lộ một chi tiết nào liên quan đến Hiệp ước ấỵ Nội dung Hiệp ước được Lãnh đạo Đảng CS coi là bí mật quốc giạ Công chúng chỉ biết một cách mơ hồ rằng chừng 70 địa điểm tranh chấp đã được giải quyết. Chắc rằng VC muốn ám chỉ tới những ngọn đồi và các địa điểm chiến lược của Việt nam mà quân đội Trung cộng chiếm đoạt vào thời gian có cuộc chiến tranh vào tháng 2-1979. Trong kỳ xâm lăng này, quân đội Trung cộng tiến sâu vào nội địa Việt nam tới 40 cây số trong phạm vi các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai và Lai Châụ Sau 17 ngày xâm lăng, Trung cộng tuyên bố đã dậy Việt nam một bài học rồi rút quân về. Tuy nhiên, Trung Cộng đã để lại quân đội ở Việtnam, chiếm đóng các cao địa ấy, dùng làm các căn cứ hành quân từ đó bắn pháo binh đe dọa Việt nam, với mục đích là cầm chân 600,000 quân Việt cộng tại chíến trường phía Bắc nàỵ Đến năm 1987, cuộc đối đầu sát vùng biên giới hầu như ngưng lạị Vào thời gian này, VC kêu rằng quân TC đã di chuyển 100 Mốc biên giới vào sâu nội địa Việt nam.

Sau khi tái thiết lập bang giao vào năm 1991, quân trú phòng Trung cộng tại các địa điểm trên đuổi nông dân Việt ra khỏi đất đai của họ. Chúng đưa nông dân Tầu từ bên kia biên giới sang lập nghiệp. Có những báo cáo của truyền thông quốc tế đề cập tới việc lính Trung Cộng đốt nhà nông dân Việt trong vùng Lạng Sơn, cạnh quốc lộ 1, đuổi họ đi, và rằng khi có những biến cố đó, Việt nam không dám gửi phản kháng mạnh cho Trung cộng . Nữ phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao VC chỉ nói rằng từ nay trở đi phía bên kia (ám chỉ Trung Cộng) đừng phạm phải các hành vi đó nữạ

Không một ai biết chắc có bao nhiêu vùng tranh chấp; các vùng đó nằm ở đâu; mỗi vùng rộng hẹp ra saọ VC không nói gì đến vấn đề đó được giải quyết như thế nào: như TC tự nguyện trả lại đất cho Việt nam hay trả như thế nàỏ ai là người tiếp nhận; hoặc phần đất nào bị mất về tay Trung cộng? Mới đây, một vài thành viên bất mãn trong Ban Lãnh đạo tiết lộ ít chi tiết: 789 cây số vuông đã bị chuyển nhượng cho Trung cộng qua Hiệp ước 1999. Trong tháng 12 vưa qua, một quan sát viên báo cáo rằng khi ông ta đến thăm Ải Nam Quan- Cưả Aỉ giữa hai quốc gia, được xây bên bờ phía Nam sông Nam Quan, làm ranh giới chia đôi 2 nước, thì bị lính canh cấm đi vàọ Ông ta phải đi vòng sang Trung Hoa, rồi xuống. Báo cáo của ông ta nói rằng cái cổng cũ đã biến mất. Một cổng mới được xây về phiá Nam, cách cổng cũ 5 cây số. Trong thời gian có cuộc chiến, quân Trung cộng tàn phá hết các cơ sơ phiá nam bờ sông. Sau 1991, các cơ sở mới được xây lạị Một tòa nhà hành chánh được dựng lên dùng làm văn phòng lo các dịch vụ như di trú, quan thuế, cảnh sát, anh ninh, quân sự, bưu điện, viễn thông v.v. đã lọt vào tay Trung Cộng. Hơn nữa, các tài sản của tư nhân như khách sạn, nhà hàng, cơ sở buôn bán, nhà cửa nay thuộc quyền sở hữu của Trung Cộng. Nhiều di tích lịch sữ, thắng cảnh cũng chịu cùng chung một số phận[1].

Sự việc đó xẩy ra như thế nào?
Vào tháng 9 -1989, Nguyễn văn Linh, là Tổng Bí Thư Đảng CS lúc đó, Phạm văn Đồng, Cố Vấn và Đỗ Mười, Thủ tướng bí mật đi Trung cộng để xin tái lập bang giaọ Họ được Giang trạch Dân và Lý Bằng tiếp tại Thành Độ Trung cộng biết rằng Liên sô sắp sửa cắt hết viện trợ kinh tế, nên đưa ra rất nhiều điều kiện. Một trong các điều kiện đó là phải đuổi hết các phần tử chống Trung Cộng ra khỏi Ban Lãnh đạo Đảng. Vào tháng 6 năm 1991, nhóm này thực hiện các cam kết với Trung cộng nhân dịp Đại Hội Đảng kỳ VIỊ Vài tuần lễ sau đó, Lê đức Anh bí mật đi Trung Hoa, và tháng 11 năm ấy, bang giao được thiết lập giữa hai đảng và hai quốc giạ Đỗ Mười, tân Tổng bí thư, và Võ văn Kiệt, tân Thủ tướng đi Trung cộng đến làm lễ thiết lập bang giaọ Họ cam kết giải quyết vấn đề biên giớị Vào tháng 2 năm 1999, Lê khả Phiêu trong một cuộc viếng thăm vội vã tại Trung Hoa, xác nhận với Tổng bí thư Đảng CS Trung Hoa các kế hoạch, đã được loan báo vào năm 1997 để hình thành Thỏa ước về biên giới vào năm 1999 và về Vịnh Bắc Việt vào cuối năm 2,000[1]. Rồi trong tháng 12 vưà qua, Tổng bí thư Nông đức Mạnh sang thăm Trung Hoạ Thông cáo chung ký ngày 2 tháng 12 nói rằng:” Hai bên cũng sẽ tích cực xúc tiến mau lẹ tiến trình ấn định biên giới, cắm các mốc đánh dấu, biến đổi biên giới Việt-Hoa thành biên giới hòa bình, hữu nghị và ổn cố lâu bền,[1]” hay nếu dùng danh từ của hãng thông tấn Trung cộng Xin Hua: “xúc tiến mau lẹ phân định các vùng tranh chấp trên đất liền và trên biển”[1]. Các lãnh đạo VC thường luôn nhắc lại lời nói của Giang trạch Dân: Liên Bang Hữu Nghị, Hợp Tác Toàn Diện, Ổn Cố Lâu Bền và Hướng Về Tương laị Và Nông dức Mạnh tuyên bố đây là lời vàng ngọc phải theọ  Thật rõ là Trung cộng đã cấy được các tay sai vào Ban Lãnh Đạo Đảng CSVN để thực thi các âm mưu của chúng. Và việc chuyển nhượng đất đai này được thực hiện một cách êm thấm.

Không ai ngạc nhiên khi biết rằng trong cuộc viếng thăm chính thức vừa qua, Lý Bằng đã đến ôm hôn hai người “bạn thân” là Lê Khả Phiêu và Đỗ Mười dù hai người này đã bị hạ bệ.

Để thi hành Hiệp ước, Ủy Ban Phân Định Biên Giới Việt-Hoa được thiết lập. Ủy Ban đã họp phiên họp kỳ II tại Hà nội từ ngày 14 tháng 2 đến 2 tháng 3, 01. Hai bên đã trao đổi quan điểm về 9 bản văn liên quan đến việc phân định biên giớị Họ đồng thuận về thời khoá biểu công tác cho các toán hỗn hợp pbụ trách công việc phân định biên giới, trao đổi bản đồ vị trí các mốc, so sánh các địa điểm nơi đặt mốc, và thảo luận các dấu hiệu mốc được sự dụng[1]. Với sự cam kết của Nông đưc Mạnh, cả hai bên vội vã tổ chức các buổi lễ đặt Mốc biên giới đầu tiên để cho Biên giới mới này trở thành chính thức.

Đây là hành vi cuối cùng của VC trong tiến trình chuyển nhượng một phần lãnh thổ cho Trung cộng.

Vấn đề pháp lý.
Theo Công Pháp QuốcTế và Quốc Nội và các tập tục hiện có liên quan đến việc chuyển nhượng lãnh thổ, bất cứ chính quyền nào cũng phải tuân theo một số qui luật để việc đó có giá trị: 1) Phải có một điều khoản trong Hiến pháp qui định rằng chính quyền ấy được phép làm việc nàỵ Nếu không có điều khoản nào như vậy ghi trong Hiến Pháp, thì phải tổ chức trưng cầu dân ý để dân chúng quyết định. 2)  Thụ tục chuyển nhượng phải tiến hành công khaị 3) Cũng như trong ngành tư pháp, phải có trao đổi vật (consideration) giữa hai bên, giống như việc mua/bán.
Ứng dụng vào trường hợp VC chuyển nhượng phần đất biên giới cho Trung Cộng, ta không thấy có một điều nào được thỏa mãn. 1) Hiến pháp 1992 của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam không có một điều khỏan nào trù liệu về vấn đề nàỵ Và VC cũng không tổ chức trưng cầu dân ý. 2) Đảng CSVN đã thực hiện việc này một cách bí mật. 3) Không có trao đổi một vật gì giữa hai bên. Chỉ thấy có VC trao đất. Còn bên kia (Trung Cộng ) không thấy có trao một vật gì cho VC, như tiền bạc, hay một vật gì khác có giá trị tương đương. Nếu có người nêu ra câu hỏi là VC trao đất cho TC để đổi lại được ủng hộ để tiếp tục năm giữ quyền hành, thì cũng là đền bù lạị Lý luận này không không được chấp nhận về pháp lý vì lẽ: 

a) Trao đổi để tìm kiếm sự ủng hộ để ngồi lỳ trên chính quyền là một vấn đề chính trị, không phải là một vật được trao cho bên đối ước. Nếu xẩy ra như vậy, thì Đảng CSVN đã chuyển nhượng vô thường đất đai cho TC. 

b) Đảng CSVN không là người sở hữu chủ đất Việt nam. Đất ấy thuộc quyền sở hữu của toàn dân. Hiến Pháp VC 1992 có nói rằng đất đai thuộc về tòan thể dân chúng. Đảng (CS) chỉ lãnh đạo nhà nuớc, không làm chủ đất đaị  Không ai có thể chuyển cho một đệ tam nhân cái gì mà chính mình không có. 

Ngoài ra, Đảng CSVN chỉ là một nhóm người, tự nhận rằng có hơn 2 triệu đảng viên, sử dụng các biện pháp khủng bố để đàn áp mọi tiếng nói của dân chúng, nhờ đó nắm giữ quyền hành. Chúng không được bầu để đại diện 80 triệu dân Việt.  Việc chuyển nhượng này là công việc riêng giữa hai đảng cộng sản, không có liên hệ gì đến nhân dân Việt nam. 

Do vậy, việc chuyển nhượng ấy là vô hiệu, và các lãnh đạo Đảng CSVN phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nàỵ.

TUYÊN CÁO
của Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ về việc Đảng Cộng Sản Việt nam thực hiện việc nhượng đất choTrung Cộng qua Hiệp ước 1999.
Ngày 27 tháng 12 năm 2001, Việt cộng (VC) tổ chức lễ trọng thể đặt Mốc biên giới tại thị trấn Móng Cáị Đây là Mốc đầu tiên trong số 1,500 cái sẽ được đặt trên một khoảng cách là 1,350 cây số dọc theo biên giới Việt Hoạ  Cùng một lúc,Trung cộng (TC) cũng tổ chức một lễ tượng tự tại thị trấn Đông Hưng sát ngay Móng Cáị  Việc đặt Mốc này là thi hành Hiệp Ước Phân Định Biên Giới trên đất liền mà TC và VC ký vào ngày 30 tháng 12 năm 1999. Quốc Hội VC đã phê chuẩn Hiệp Ước vào tháng 6 năm 2000.  Dù đã phê chuẩn Hiệp ước ấy, Đảng cộng sản Việt nam (ĐCS) vẫn không công bố nội dung Hiệp ước cho công chúng biết. Chúng coi Hiệp ước như một bí mật quốc giạ Người ta chỉ được biết mơ hồ rằng hai bên đã giải quyết được 70 địa diểm tranh chấp. Có lẽ ĐCS ám chỉ đến các ngọn đồi và các địa điểm chiến lược nằm sâu trong nội địa Việt nam mà Trung cộng chiếm của Việt nam trong thời gian xảy ra tranh chấp từ tháng 2 năm 1979. Các địa điểm này nằm trong 6 tỉnh biên giới là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai và Lai Châụ Lúc đó quân TC đã tiến sâu vào tới 40 cây số, tàn phá nhiều cơ cở của Việt nam. Sau 17 ngày xâm lăng, TC tuyên bố rằng đã dạy xong một bài học cho VC, rồi rút quân về. Thực tế, quân TC còn chiếm đóng các cao địa ấy, và từ đó dùng các phương tiện quân sự để đe doạ VC, nhằm cầm chân 600,000 quân VC tại mặt trận nàỵ Đến 1987, mức độ áp lực cuả TC giảm xuống nhiều, nhưng TC vẫn còn tiếp tục chiếm đóng quân tại các vùng ấỵ Dù sau khi hai bên ký Hiệp ước tái lập bang giao vào 1991, lính bên phòng TC đóng tại các nơi này vẫn sử dụng võ lực đuổi nông dân Việtnam đi nơi khác, có khi đốt nhà cửa của họ để chiếm đất cho nông dân TC sang lập nghiệp. Không một ai được biết có bao nhiêu đất đã lọt vào tay TC và ở những nơi nàỏ Trong số khu vực đã được giải quyết như ĐCS tiết lộ, TC đã trả lại cho Việtnam những nơi nào, như thế nào, bao giờ, diện tích là bao nhiệu, và ai là ngưòi tiếp nhận?  Mới đây có tin tức tiết lộ cho biết số đất VC nhượng cho TC là 789 cây số vuông.

Hiệp ước Phân Định Biên Giới trên đất liền đưọc thai nghén tại Trung Hoa từ 1991 với sự cam kết của Tổng bí thư (TBT) Đảng CSVN Đỗ Mườị Rồi TBT Lê khả Phiêu cũng tại Trung Hoa hứa thúc đẩy việc ký kết và Hiệp ước được ký vào tháng năm 1999. Cuối cùng, đầu tháng 12, 01 vừa qua cũng tại Bắc Kinh như 2 TBT tiền nhiệm, TBT Nông đức Mạnh xác nhận trong Thông Cáo Chung thực hiện ngay công tác cắm Mốc biên giớị Đây là bước cuối cùng trong tiến trình chuyển nhượng phần lãnh thổ đó cho TC. Việc cắm Mốc vội vã này là để hợp thức hoá biên giới mới ấy trong một âm mưu chuyển nhượng đất đai của quốc dân Việt nam.

Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ trong các tuyên cáo ngày 29 tháng 4 năm 1995 và ngày 18 tháng 12 năm 2000  đã xác nhận chủ quyền của Việt nam trên đất liền cũng như trên mặt biển; tố cáo ĐCSVN chuyển nhượng bất hợp pháp các phần đất ấy của dân tộc Việt nam; và qui trách nhiệm cho ĐCS làm công việc phi pháp nàỵ  Một lẫn nữa, Ủy Ban tuyên bố Hiệp ước ấy và biên giới mới đang được thực hiện bằng cách cắm Mốc là vô giá trị vì lẽ: 1) Đất đai của Việt nam thuộc quyền sở hữu của quốc dân Việt nam. Chỉ có quốc dân Việt nam mới có
quyền quyết định về mọi chuyển nhượng. 2) ĐCSVN đã lạm dụng quyền hành làm việc này, và sẽ phải chịu trách nhiệạm hình sự về hành vi ấỵ 3) Đối với Trung Cộng, đây là việc làm giữa hai Đảng CS, không có liên hệ gì với quốc dân Việt nam.
Đảng CSVN chiếm quyền và cai trị bằng bạo lực, không phải là đại diên cho nhân dân Việt nam. Hiệp
ước 1999 và việc thi hành Hiệp ước như trên vì thế hoàn tòan vô giá trị Quốc dân Việt nam dành quyền
sử dụng mọi phương pháp cần thiết để bảo vệ tài sản của tiền nhân để lại

Làm tại California ngày 18 tháng 1 năm 2002
Đại diện: GS Nguyễn văn Canh
oOo

Tội Đồ Dân Tộc
Ai cho các người đem giang sơn tiên tổ 
Thiêng liêng xinh đẹp dâng hiến ngoại bang?
Gia sản cha ông, biển bạc rừng vàng
Làm vật tiến cống để vững an quyền lực?
Ai cho các người nhẫn tâm bán đứt 
Xương máu biết bao liệt sĩ anh hùng
Ngàn đời hòa quyện đất nước núi sông
Vào tay kẻ thù vạn niên, truyền kiếp?
Ai cho các người sang nhượng tộc khác
Nhân dân biên ải, những chiến sĩ địa đầủ
Coi khinh huyền thoại, gian khổ, thương đau
Của các hùng anh luôn trực diện lũ giặc?(1)
Ai cho các người để đai phòng thủ tan tác.
Đặt đất nước trong kềm tỏa Bắc triềủ
An ninh tổ quốc cơ hồ bị mất tiêu,
Giang sơn lãnh thổ chịu ngoại nhân uy hiếp?
 * * *
Các người quên sao tình tự dân Việt,
Bọc trứng trăm con từ dạ Mẹ Âu Cơ,
Con Hồng cháu Lạc chung một cõi bờ
Máu đỏ da vàng nơi thân mình huyết nhục?
Các người quên sao cảnh chung lưng đấu cật
Bảo vệ sơn hà: Phù Đổng Thiên Vương,
Mối đồng tâm hiệp lực chống bắc phương
An lành xã tắc: Bình Ngô Đại Cáỏ
Các người quên sao nỗi đau tàn bạo,
Mối nhục ê chề: Mạc dâng đất tổ tiên? (2)
Bia miệng nhắc nhớ, nguyền rủa muôn niên!
Dân tâm ghi tạc, căm hờn vạn kiếp!
Các người quên sao đã một lần hèn nhát
Nhường lãnh hải, dâng giặc Hoàng Trường Sả (3)
Nay nhục nhã bán đất biển sơn hà!
Bất kể tiếng đời “phản quốc, bội tổ”!
 * * *
Mỉa mai thay chữ “Vẹn Toàn Lãnh Thổ”,
ạẤủĐộc Lập Dân TộcạẤ?, ạẤủChủ Quyền Quốc GiaạẤ?
Ý nghĩa chi ạẤủLễ quốc tổạẤ? mới ban rả (4)
Chỉ rặt một trò mỵ dân thô thiển!
Đau đớn thay mất ạẤủNghìn năm biểu tượngạẤ?!
ạẤủẢi Nam quanạẤ?, giới điểm Bắc đâu rồỉ
Ô nhục lắm, dân tộc tổ quốc ơi!
Trọng tội ấy biết bao giờ tha thứ?
Hỡi những ai đoạt trọn quyền hành xử,
Chớ tưởng của các người tổ quốc Việt Nam,
Mà muốn làm chi trên đất nước thì làm!
Ưa nói gì với nhân dân thì nói!!!

LM Phan Văn Lợi, VN

NHỤC NƯỚC CHẲNG HỀ PHAI
(kính dâng tặng đồng bào trong và ngoài nước, cùng Bộ Đội cộng sản)
Lấy chém giết, giành quyền đập đổ.
Có dự mưu, nên cố tâm vào
Ác gian cộng sản Cờ Sao,
Gian thần cướp nước, lao nhao khắp vùng.

Sự thật đó ! đau chung cả nước
Bước khởi đầu, nếm bước di cư
Kể từ Một Chín Năm Tư !
Cả triệu lớn nhỏ giả từ cộng nô.

Chia Nam Bắc, tặc Hồ gian ác
Vay đạn bom, Kác-Mác Lê-Nin
Thờ Mao sát hại dân mình,
Chủ trương đấu tố rập rình tấn công.

Mậu Thân đó ! máu hồng tuôn thấm
Đất Thần Kinh, ứ đậm đáy mồ
Thịt xương máu mủ chưa khô,
Xua quân dấy loạn, cơ đồ tả tơi.

Một lần nữa ! ra khơi di tản
Lại giả từ, cộng sản Tam Vô
Lánh xa cái lũ giặc Hồ,
Thà chết trên biển không mồ cũng cam.

Tập Đoàn Đảng, gian tham cướp bóc
Cắt cơ đồ, dân tộc lầm than
Máu xương đất nước giang san,
cúi đầu dâng hiến chẳng màn công lao.

Ôi tủi nhục, “đỉnh cao trí tuệ”
Bọn thúi mồm quỷ kế mị dân
Chẳng lẽ Bộ Đội độn đần ?
Bạc nhược im tiếng chẳng cần sử xanh.

Bộ Đội đó, cốt dành bảo thủ
Cho Tập Đoàn, hưởng thụ buôn dân
Riêng Anh nhịp thở Dân cần
Là xương là máu là phần biên cương.

Nêu chí dũng, kiên cường văn võ
Khí hùng anh, chứng tỏ vô song
Là người Việt, tô máu hồng,
Sẳn sàng tay súng non sông vững bền.

Sách Cha Ông ! còn tên lẫn họ
Lê-Lý-Trần, rạng tỏ Việt Nam
Ngày nay đảng quá gian tham,
Vùi chôn Quốc Thể, việc làm nhơ danh.

                        KHAI TRINH

TỘI ÁC CỘNG SẢN
Tội HỒ cộng sản ngập non sông
Đất nước nơi nơi máu nhuộm hồng
Cờ đỏ sao vàng lừa trí, phú
Búa liềm vô sản mị công, nông
Ải quan + hải đảo: MAO chiếm cả
Lăng tẩm + thánh đường: HỒ phá không
Văn hiến + nhân quyền: chà đạp hết
Đất nào dung lũ phản Tiên Rồng
HẢI BẰNG HOÀNG DÂN BÌNH

Sau đây là bài họa :
LÊN ÁN CỘNG SẢN VN
Giặc HỒ gây nợ máu thành sông
 Bán đứng quê CHA tổ LẠC HỒNG
Đất nước tan tành do chú CÁO
Quê hương điên đảo bởi thằng NÔNG
CHA ÔNG đổ máu, nghìn năm có
LƯƠNG MẠNH phủi tay, một phút không
Hải đảo, đất liền dâng cống nạp
Làm đau làm nhục giống Tiên Rồng
TRÙNG DƯƠNG
oOo

ĐỐI THOẠI - ĐỐI THOẠI - ĐỐI THOẠI
15 tháng 1 năm 2002
Tiếng nói của chủ nhân đất nước - Đối thoại để có  dân  chủ
Cùng các bạn! 
Trước âm vang phẩn nộ về việc đảng ta  lén lút cắt đất dâng cho ngoại bang, Đối thoại số này dành  gửi cho các bạn bài viết và lá thư gửi các bạn xa gần khắp  nơi  nhằm phanh phui những bộ mặt trên sân khấu chính trị của  đảng ta như thế nào lại đưa đất nước dân tộc tới  nổi  bạc nhược như hôm nay, khiến nhân dân ai có chút lòng  cũng  đều ta thán cúi đầu nhục nhã với tổ tiên. Lá thư thứ  nhất của một trí thức trẻ ở thủ đô ghi nhận cho bạn.  Bài  viết thứ hai trong loạt bài “Chào mừng thời kỳ đổi mới  Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh” của đảng viên lão thành  Trần  Dũng Tiến từng sống chết với đảng trong suốt thời gian  chiến tranh trước đây, viết trong thời gian QH họp nhóm  họp  trước đâỵ
***

Hà nội ngày 1/1/2001.
Kính gửi anh Huỳnh !
Nhận được thư anh đã lâu, nhưng hôm nay, tôi mới có  dịp  biên thư thăm anh, mong anh thông cảm. Tháng trước chúng tôi  có  việc bận phải về quệ Công việc vừa xong, tôi vội  viết  thư trả lời anh đâỵ Trước hết, nhân dịp năm mới, xin  chúc  anh cùng gia quyến được an khang thịnh vượng, và đạt mọi  mong ước trong cuộc sống. Anh thân mến ! Chắc anh xa quê hương đã lâu ngày, mà chưa  có  dịp về thăm nhà, nên không hiểu rõ tình hình bên này, và  nhất là những băn khoăn của anh về Hiệp định biên giới  Việt-Trung. Vậy tôi xin kể qua cho anh nghe chút ít về dư  luận xã hội ta những tháng gần đây, có liên quan đến đại  hội  Đảng và Hiệp định biên giớị Anh còn nhớ không: trong Bình Ngô Đại Cáo ghi rõ :

“Như nước Đại Việt ta từ trước,
 Vốn xưng nền văn hiến đã lâụ
 Cõi bờ sông núi đã riêng,
 Phong tục Bắc- Nam cũng khác.
 Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng  nước,
 Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một  phương.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Mà hào kiệt không bao giờ thiếụ....” 
Lịch sử chứng tỏ sức sống mãnh liệt của dân tộc ta,  hơn  mười thế kỷ Việt nam đã chìm đắm trong nô lệ của bọn  phong kiến Phương Bắc. Nhưng, với năng lực phi thường  dân  tộc ta vẫn giữ được nguyên vẹn bản sắc, rồi vùng  lên  lật đổ ách thống trị của Phương Bắc. Từ năm 339,  Việt Nam đem xương máu quyết giữ nền độc lập : đánh Tống,  diệt  Mông Cổ, tận diệt quân Minh, đánh tan quân Mãn. Dân tộc  VN  tuy nhỏ bé nhưng hàng trục lần tranh hùng với anh không lồ  Trung Hoa mà không lần nào thất bạị Trải qua bao nhiêu phong  ba  bão táp, chủ yếu do giặc Phương Bắc gây nên, con thuyền  VN  hiên ngang lướt! qua sóng to gió lớn, dân tộc VN vẫn kiên  trì sự sống còn của mình, và tiến về phía trước, cố  gắng  cùng với các dân tộc luôn luôn có mặt trên vũ đài lịch  sử. Nhưng tất cả chỉ là những hoài niệm về những dĩ vãng  xa  xưa của một trang sử hào hùng. Tất cả chỉ còn là quá  khứ. Tấn bi kịch đau thương của dân tộc Việt Nam lại bước  sang  một trang đen tối nữa kể từ khi các vị Thái Thượng  Hoàng là : Đỗ Mười, cùng Lê Đức Anh dật giây cho Lê Khả  Phiêu  (lúc đó còn là Tổng bí thư đảng CSVN) đàm phán “bán  nước”  cho CSTQ. Sự việc xảy ra vào tháng 10/1999. Lê Khả Phiêu có một  chuyến  đi bí mật sang TQ mà không thông qua BTC. Trong chuyến đi  đó,  họ đàm phán những gì với nhau thì ta không được biết.  Chỉ  biết rằng sau chuyến đi H! iệp định biên giới được  ký ngày  30/12/1999. Nghe nói trong kỳ họp Quốc hội lần VI khoá X,  lúc  đưa vấn đề biên giới trên bộ ra để Quốc hội thông  qua,  thì không một đài, báo, cũng không một đại biểu dự  khuyết nào được tham dự. Và cũng vào thời điểm đó một năm  sau  ( Năm 2000) , chính quyền HN “bán” nốt một phần Vịnh Bắc  Bộ.

Theo Hiệp Ước Vịnh bắc Bộ được thực dân Pháp đại  diện  cho VN và triều đình nhà Thanh ký năm 1895, lấy kinh tuyến  108o  3’13’’ làm đường ranh giới phân chia vịnh Bắc Bộ, thì VN  được hưởng 64% và TQ được 36%. Không hiểu CSTQ dỗ nhon  dỗ ngọt như thế nào, hay là họ đã nắm được gót chân A-Sin  của anh CSVN đang ở vào thế yếu trước trào lưu dân chủ trên  TG  mà cần mong sự bảo trợ nên đã nhân nhượng cho TQ quá  nhiều, để mong sự bảo kê, của CSTQ. Sau khi TQ d! dã cắt  đi  những phần nhiều dầu mỏ và khí đốt gần bán đảo Lôi  Châu, phần còn lại chia theo tỷ lệ VN 53% - TQ47%. Tổng  cộng ta  mất gần 10% diện tích vịnh Bắc Bộ, và khoảng trên 700  Km2  đất liền trên bộ. Vào tháng 7/2001. Ông Vũ Minh Ngọc có đưa bài viết “Đối  thoại tháng 6-2001” của cử nhân luật Lê Chí Quang cho Lê Khả  Phiêu  xem, ông Phiêu dãy nảy lên mà bảo rằng: “ Thôi chết tôi  rồi,  không phải tôi ký, mà là ông Trần Đức Lương ký...” . Mà  suy  cho cùng thì ông Trầ Đức Lương mới có đủ tư cách pháp  lý  trong việc thông qua những hiệp định bán nước trên, và  cũng  cùng một guồng máy trên. Từ lúc 2 Hiệp định trên chưa thông qua, nhiều tiếng nói  dũng cảm trong nước đã lên án chính quyền HN trong 2 Hiệp  định  trên nhưng tất cả chỉ là nhữn! g ngọn cỏ yếu ớt trước sức  nặng bạo hành và không thể kiềm chế được của con  ngựa  thành Troji độc đảng. Đã vậy mà ông Lê Công Phụng thứ trưởng Bộ Ngoại giao,  người tham gia đàm phán từ đầu tới cuối trong những  Hiệp  định trên còn rống lên trên tạp chí Cộng Sản số 7/2001  là:

“Ta được lợi hơn TQ...” . (từ rống không được dùng  cho  loài người, nhưng đối với những kẻ vong quốc như Lê  Công  Phụng thì tôi e rằng nó còn quá nhẹ, và tôi xin được  đổi tên ông ta là Lê Cung Phụng vì ông đã cung phụng bố Tàu  của  Ông ). Hôm 28/12/2001 , nhìn bộ mặt nhăn nhở, và hàm răng trắng  nhởn của ông Cung Phụng nói nói, cười cười trên TiVi khi  chứng kiến lễ đóng cột mốc số 1369 đầu tiên của  Hiệp  Định bán nước này, lòng tôi như nghẹn lạị không cầm  được nước mắt, lấ! y một nén ngang thắp trên bàn  thờ, và  khóc cho một dân tộc anh hùng đang bị những kẻ vô liêm  sỉ  bán đứng. Tôi ước sao mình biến thành tráng sĩ Kinh Kha  vác  gươm ra đi chém bọn Tần Đỏ xâm lược, chỉ tiếc rằng  chân  yếu tay mềm nên bất lực, nghẹn ngào mà đừng nhìn. Cộng Sản trước đây là những người vô thần, thì nay  họ  lại mê tín đến mức coi số 1369 là con số linh thiêng có  tổng là 9 sẽ báo hiệu một quan hệ tốt lành. Thực chất  sự mê tín này là của những kẻ thiếu hiểu biết, của những  kẻ  lưu manh, máu mê cờ bạc, ba cây, đỏ đen. Con số 1+3+6+9 =  19 họ cho rằng là 9. Nhưng theo thuật chiêm tinh và bốc độn của  người Trung Hoa chỉ lấy từ số 1đến số 9, nên còn phải  cộng đến khi nào được con số dưới 10 mới thôị Tức  là  1+! 9=10; 1+ 0 = 1. Số 1 mới là số chính xác. 1369 sẽ có  tổng  là 1, và số 1 có phải sẽ báo hiệu một triều đại CS  sắp  suy tàn. Thôi rồi đất mẹ Việt Nam ơi !... Còn đâu thác Bản Giốc cảnh đẹp đã đi vào niềm tự hào  của Cao Bằng .... Còn đâu suối Phi Khanh , nơi Nguyễn Trãi gạt lệ tiễn  biệt  cha, và rồi ít lâu sau đó trốn vào Thanh Hoá tụ hội cùng  nghĩa quân Lam Sơn phục hận : “Đánh một trận sạch không  kình  ngạc; Đánh trận nữa tan tác chim muông”... Còn đâu Mục Nam Quan đã đi vào câu ca “Nước Việt Nam ta  liền một dải; Từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau”... Còn đâu ải Chi Lăng, núi Mã yên nơi “Ngày mười tám tại  Chi  lăng, Liễu Thăng thua kế; Ngày hai mươi tại Mã Yên, Liễu  Thăng rơi đầu”.... Tất cả chỉ còn là dĩ vãng, chỉ còn trên sách vở, khi  những  tên lưu manh đội lốt vô sản đã ! bán đứng cả dân tộc nàỵ Khi nhắc đến hai chữ lưu manh chắc anh không khỏi thắc  mắc?. 

Vậy tôi xin ngược dòng lịch sử trở lại một giai  đoạn đau thương của dân tộc. 
Ngày 8/5/1960 Lê Duẩn được bầu làm Tổng bí thư đảng  CSVN.  Duẩn vốn xuất thân từ công nhân ngành đường sắt, nên  ông ta đã lèo lái con tàu cách mạng VN đến tận cùng của  tội ác và tham tàn. Duẩn tập hợp quanh mình cả một bầy đoàn  những kẻ vô đạo, như Thọ, Hữu, Dũng, Hoàn ...vv, thống soái  toàn  bộ quyền lực. Họ hô hào Nam tiến, dẫn đến cuộc binh  đao  máu lửa cho cả một dân tộc. Khi anh em một nhà phải bắn  giết lẫn nhau ngoài mặt trận, thì không một con em các  vị  “lãnh tụ đáng kính” nào phải ra mặt trận, không một con  cháu  của vị nào bị đụng cho dù ch! ỉ một sợi lông trong bom  đạn của  cuộc chiến. Thay và o việc phải ra mặt trận thì bọn  chúng lại  được đi du học tại các nước XHCN như Liên Xô, Cộng hoà  dân chủ Đức, Tiệp Khắc...vv. hay ít ra cũng được nhận vào  những chỗ thơm tho tại các cơ quan béo bở của nhà nước.  Năm 1975 khi quân đội Bắc Việt tiến vào Sài Gòn. Bao nhiêu  của  cải vơ vét được của những người chạy loạn, của tổng  kho  Long Bình.... ,và 16 tấn vàng của ông Thiệu, đều được  chở ra Bắc, bí mật dấu tại hai nơi, một ở Đồ Sơn, một  ở  Côn Sơn. Khi đó chỉ có ba người biết mật mã để mở  kho  là: Duẩn, Thọ, Dũng. Bây giờ các kho đó rỗng không. Hàng  hoá đều không cánh mà bay, Quốc hội đã nhiều lần chất  vấn  chính phủ nhưng không ai giải thích được tại saọ Nhưng  không  hiểu sao , các con cháu của Duẩn đều là tỷ ! phú đỏ cả.  (vụ này đã có ngưòi phát giác), cuối năm 1989 Thọ cùng con  trai bí mật sang Thuỵ Sỹ chắc không cần phải giải thích ai cũng  hiểu  để làm gì !. Vậy có phải phải gọi là gì mới đúng?. Năm 1984, trong kho chỉ còn lại một ít thứ, lúc đó những  thứ còn lại, mới chia cho sỹ quan quân đội gọi là chiến  lợi phẩm. Tôi vẫn nhớ, mỗi sỹ quan được nhận một cái  mũ  nồi xanh của QĐ VNCH. Khi lật ở dưới lên ta thấy có  dòng  chữ : “Cung cấp quân trang- Đỗ Thị Hảo”; Hoặc “Cung cấp  quân  trang- Đào Thị Độ”. Xin nhắc lại rằng chỉ có sỹ quan mới được mũ thôi,  chứ  người lính thì vẫn chỉ là con số không tròn trĩnh.  Những  người lính, sau khi rời mặt trận, với chiếc Ba Lô xẹp  lép,  trở về quê hương, lại lấy cày làm súng, lấy đít tra!  Áu làm  thước ngắm, lấy đồng ruộng làm trận địa, chiến  đấu  với đói nghèo và lạc hậụ ấy thế mà năm 1983 khi phát  biểu trước các thầy cô và học sinh, nhân chuyến thăm  trường Đại học Sư Phạm ông ta còn nói: “...Là người  Đảng  viên CS chúng ta, khi thấy một phụ nữ phải đẩy xe bò,  chúng  ta phải thấy sót thương và cảm thông...” . Bởi vậy có  một  cô Y tá tên Hồng là nhân viên massage của bệnh viện 108  khi  giúp ông đẩy chiếc “xe bò” nhục dục của ông lên đỉnh cao  của khoái cảm (orgasm), ông đã “cảm thông” và tặng cô hai căn  hộ  tập thể. (sự việc này ở VN ai ai cũng biết). Anh nên  biết  rằng khi đó một căn hộ tập thể là tột đỉnh ước mơ  của những người lao động . Vậy có phải là Vô sản lưu manh  không ?.!. 

Ông Lê Đức Thọ thì đã được nói tới quá nhiều, nên  tôi  không cần phải! bàn đến nữạ Những triều đại tiếp sau Duẩn là Mười - Anh - Kiệt -  Phiêụ.., cũng chỉ là những mắt xích của cỗ máy nghiền  chuyên chính Vô Sản, đã và đang tiếp tục bòn rút, cày  xới  mảnh đất cằn cỗi, đau thương VN nàỵ Ông Đỗ Mười, xuất thân từ một anh bán lợn, vào  những  năm 1941-1942 khi bị Pháp bắt bỏ tù tại Hoả Lò, ông ta mới  biết đọc biết viết, sau đó ông ta có thời gian bị  điên,  bây giờ tôi thấy thần kinh ông ta không bình thường. Vụ  nhận hối lộ 1 triệu US $ của Hàn quốc bị phát giác mà  ông  ta vẫn nhâng nhâng, coi như không. Nhân đây tôi cũng xin  nói  thêm. Người tố giác Mười nhận hối lộ lại chính là  Tố  Hữụ Cách đây nhiều năm Tẩ HữU có nhận được một  giải  thưởng thơ văn do chính đức vua Na Uy trao tặng, theo! nghi  lễ  khi nhận giải phải quỳ trước mặt vuạ Khi Tô ‘ Hữu về  nước Đỗ Mười mắng Tố Hữu: “Anh là người CS mà phải quỳ  trước mặt bọn Đế quốc à” Tố Hữu ôm hận trong lòng,  tìm  ngày báo thù. Lúc biết Đỗ Mười nhận hối lộ, Tố  Hữu  đã lu loa với bạn bè rằng : “Ông ấy bảo tôi quỳ trước  mặt bọn đế quốc, còn ông ấy nhận hối lộ của Đế quốc  thì  không sao” Đỗ Mười tức quá, thấy đớp không xong đành  phải nhả rạ Kể từ đó Đỗ Mười Tố Hữu không bao giờ  thèm  nhìn mặt nhaụ Thỉnh thoảng ông có những lời phát biểu  mà  một người mất trí cũng nhận thấy thần kinh ông ta  không  ổn định, ví dụ như: “Cơ chế thị trường theo định  hướng  XHCN; Cổ phần hoá theo định hướng XHCN; Thị trường  chứng  khoán theo đinh hướng XHCN...”. Tóm lại ông ta luôn ăn cắp  những sản phẩm u! +u việt của CNTB để rồi gắn vào đó  cái  đuôi thú XHCN, nói như vậy mà không biết xấu hổ. Ông Lê Đức Anh xuất thân là Cai phu đồn điền (sự vụ  này  đã bị nhiều người tố giác). Nhưng ông là cánh tay phải  của  Thọ nên ông vẫn được đặt vào ghế chủ tịch nước.  Trong  kỳ Đại hội đảng CS lần thứ VII tôi thấy ông nói những  câu hết sức đơn giản mà vẫn phải cầm giấy đọc, ví dụ :  “Ai  đồng ý thì giơ taỵ.. Ai không đồng ý thì giơ taỵ.”. Trí  tuệ như vậy thì làm sao lãnh đạo nổi đất nước, làm  sao  mà chúng ta trả đói nghèọ Ông Phiêu văn hoá lớp 4, từng là đệ tử của LĐA ở  quân khu
9 và ở Cămpốt. Về hình thức thì tôi không bàn đến,  nhưng  về học vấn và trình độ, thì tôi e là có quá nhiều  để  nói về con người nàỵ! Hiếm khi tôi thấy ông ta nói  được  một câu cho đún g ngữ pháp. Nhân dịp xuân Canh thìn, ông  ta  đến thăm đền thờ họ Lý tại Đình Bảng Từ Sơn Bắc  Ninh,  trước khi ra về có viết vào sổ lưu niệm rằng: “Đình  Bảng  là mảnh đất địa linh, sinh Linh kiệt...”. Phải viết là  Nhân  kiệt mới đúng, còn Linh kiệt là những quái thai, mảnh  đất  VN này sinh ra lắm Linh kiệt như các ông đó nên mới  nhiều  đau thương... Hay nhân dịp đầu năm Tân Tị ông ta đến uỷ  lạo

hãng hàng không VN Airline, khi phát biểu với cán bộ nhân  viên  , ông ta nói : “Các anh thiếu máy bay, thì mua lấy mà dùng,  mua  vừa thôi, mua nhiều lãng phí, dân nó biết nó chửi cho”.  Về  câu này thì tôi không biết viết gì để bình phẩm. Ông Trần Đức Lương ngoài việc ký mấy Hiệp định sai  lầm  trên, còn vướng mắc vào một việc nữạ Ông ký qu! yết định  cho xây dựng khu lọc dầu Dung Quất tại quê hương ông ở  Quảng
Ngãị Hồi đó Chính phủ lập luận rằng đó là vùng đất  nghèo, xây dựng khu lọc dầu tại đó là để tạo công ăn  việc làm cho nhân dân. Về mặt chủ quan thì rất tốt, nhưng về  khách quan, đó là vùng đất không thích hợp với khu lọc  dầu, vì nó ở quá xa bến cảng bốc dở, khiến cho công ty  Total là đối tác lúc đó rút khỏi dự án, đến bây giờ  vẫn chưa xây dựng xong nhà máy, cho nên ta vẫn phải bán dầu  thô,  để nhập về dầu đã tinh lọc, mỗi năm thiệt hại cho  nhà  nước mấy trăm triệu USD, không những thế, nếu khu lọc  dầu  Dung Quất có đi vào hoạt động, thì cũng phải xây dựng  một  đường ống dài từ Vũng Tàu dẫn tới đó, hàng năm phải  chi  hàng triệu USD để d! uy tu và bảo dưỡng, thật là tốn  kém.  Đấy thì gọi l à gì ?. Những con người như vậy tại sao  dân  tộc ta trả đói nghèọ

 Anh thân mến: Dưới thời Phiêu, khi phong trào tự do, dân chủ, đa nguyên  dâng cao trên toàn thế giới, lo sợ bị mất quyền thống  trị,  và cần sự bảo trợ cho mình nên họ đã triều cống đất  đai của tổ tiên mình cho kẻ thù. Bao xương máu của tổ tiên  đã  đổ xuống để bảo vệ từng tấc đất của biên cương  của  tổ quốc thì giờ đều trở nên vô nghĩa với họ. Họ nghĩ rằng làm như vậy may ra Trung Cộng có thể bảo  trợ  cho quyền lãnh đạo vĩnh viễn của họ. Nhưng xin đừng ngây  thơ, hai hiệp định kể trên chỉ là món bánh khai vị trong  mâm  cỗ đại bá khu vực mà TQ đang âm mưu đớp cho bằng  được. Khi xưa : Phan Thanh Giản bị triều đình ép buộc phải ký  hoà  ước nhượng cho thực dân Pháp ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang,  Hà  Tiên. (tháng10/1866; tức t! háng 9 năm Bính dần, năm Tự  Đức  thứ 19) khi trở về đau đớn và tủi nhục ông đã tuẫn  tiết. Ngày 29/11/1873 (1/10, năm Quý dậu, năm Tự Đức thứ 26) sau  khi  để mất thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương đã tuyệt thực  đến chết. 

Ngày 26/4/1882 (tức 8/3, Ngâm ngọ, năm Tự Đức thứ 34) sau  khi  để thành Hà Nội bị thất thủ lần thứ hai, Hoàng Diệu  đã  treo mình tự vẫn. Cả ba con người kể trên hoàn toàn có quyền lựa chọn sự  sống, vì khi đó ta đang ở vào thế yếu, đất nước đã  bị  thực dân đô hộ, nhưng họ đã chọn cái chết, chỉ vì họ  là  những con người có liêm sỷ, biết hổ thẹn với lương  tâm,  vì không làm tròn chữ Trung. Ngày nay những kẻ mãi quốc  khi  dân vẫn đang nhâng nháo, coi thường dư luận, và đàn áp  những tiếng nói khuyên can. Đâ! ‘y là gì nếu không gọi  là Vô sản lưu manh!.

Thật đau đớn cho dân tộc VN, chưa thoát khỏi ách phong  kiến,  thực dân, lại oằn mình dưới gót “chân đất mắt toét”  (Vô  sản thời xưa làm gì có giày) của những kẻ lưu manh đội  lốt Vô sản nàỵ

Tôi xin trở lại vấn đề thời sự còn nóng bỏng tại VN:  Sau  khi để các vị Thái Thượng Hoàng dật giây, Phiêu có chút  ân  hận, không muốn làm con rối trong tay họ, và lại được  cánh  QĐ ủng hộ nên quyết định đảo chính. Trước tiên Phiêu  thành lập A10, trực tiếp do Lê Thanh Ngân chỉ huy, chuyên làm  nhiệm  vụ theo dõi các vị cố vấn. Bốn phiên họp trù bị trước  thềm Đại hội IX, được lữ đoàn 144 bảo vệ, diễn ra  rất  cẳng thẳng. Trong cuộc họp, theo lệnh của Phiêu, không ai  được mang máy ghi âm, hay điện thoại di động, nhưng vẫn  có  những nguồn tin được rò rỉ ra ngoàị Tại cuộc họp đã  có  lúc Lê Đức Anh trợn một con mắt, chỉ mặt Lê Khả Phiêu  mà  bảo rằng: “...anh là thằng ngụ.”. Lê Khả Phiêu đứng phắt  dậy, chỉ mặt Đỗ Muời, Lê ! Đức Anh mà bảo rằng:  “...các  ông bảo tôi ngu, thế lúc đặt tôi vào chiếc ghế này, sao  lúc ấy các ông không bảo tôi ngu đị..”. Cuộc họp diễn ra  rất  căng thẳng, rồi một buổi tối, Lê Minh Hương đến gặp  Phạm Văn Trà , hai người nói chuyện với nhau đến khuyạ Hôm  sau  PVT đào ngũ, khiến con tàu LKP mất lái, đã lao phải đá  ngầm.

Hồi đó tin đưa từ trong ra, ai cũng nghĩ là Lê Minh Hương  sẽ  lên làm TBT. Nhưng rồị... Đêm hôm trước ngày họp cuối  cùng, Lê Khả Phiêu dẫn một tốp vệ sỹ đến nhà Lê  Đức Anh để thương lượng...... .Và những gì diễn ra chúng ta  đều  đã biết.....! Trong phiên khai mạc Đại hội IX cứ nhìn bộ mặt đỏ  phừng  phừng, và giọng nói như gào và micro, chúng ta cũng ít  nhiều  hiển được phần nào sự cay cú của Phiêụ S! au khi bị  thất  sủng, phải về hưu, Lê Khả Phiêu quay ngo ắt 180 độ, ông  ta,  thường xuyên tiếp súc với những người đang tranh đấu  cho  tự do, dân chủ tại VN, như Vũ Minh Ngọc, Trần Nhật Độ,  Phạm  Quế Dương. vv.. và xúi dục họ thành lập hội chống tham  nhũng. Về phần Lê Đức Anh, ngay sau Đại Hội, ông ta bay ngay vào  quân khu 9 tập hợp các đồ đệ tại đó, mở đại tiệc  ăn  mừng thành tích đã lật được tên Giu-Da phản chúạ Nhưng  khốn nạn cho ông tạ.. Tình cảm của lũ nghịch tử với ông  không được xây dựng trên tình đồng chí, đồng đội,  hoặc tình bạn, hay tình cảm thông thường của loài người mà  tất  cả chỉ vì danh vọng và điạ vị ... nên khi thấy chủ soái  của  mình là Ma Vương một mắt đã ngã ngựa, thất sủng , và  không còn khả năng bảo kê cho chúng, thì chúng cong đuôị.., đá  bát.... Khô! ng một tên tiểu yêu nào thèm đến dự. 40  mâm cổ  bị ế. Lê Đức Anh uất quá, trào máu ra miệng, phải đưa  ra  Hà Nội cấp kứu tại bệnh viện 108. Tại đó cũng chẳng  ma  dại nào thèm đến thăm ông. Mãi về sau mới có ông  Nguyễn  Văn An tới thăm vì nghĩa vụ chứ không phải vì tình. Đau  sót  cho thân phận hồi kết của mình, LĐA rơm rớm nước  mắt.. “  nếu tôi chết... các đồng chí sẽ tổ chức tang lễ như  thế  nào”, NVA bĩu môi : “Xin đồng chí cứ yên tâm, mọi việc  chúng  tôi đã lo liệu đâu vào đấy cả.”. Nhưng thật may mắn,  ông  ta vẫn chưa chết, bởi tôi mong muốn những kẻ bán nước  phải sống đến cái ngày mà bọn chúng phải ra trước vành móng  ngựa, chịu sự phán quyết của toà án về tội danh: bán  nước.

Thế đấy; sân khấu chính trị của ta là như vậy đấy,  Đôi  khi tôi tưởng đấy là cái chợ, một phường tuồng, hay  một đấu trường La-Mã thời Trung cổ. Quả là những nhà lãnh  đạo VN hiện nay đã thực hiện “đúng” di nguyện của Hồ Chí  Minh:  “các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải  cùng  nhaụ.. bán nước” hay “Chúng ta thà hy sinh tất cả...(cả  đất  đai của tổ tiên) chứ nhất định không chịụ.... (để  mất  quyền lãnh đạo)”
Chính quyền mới có gì khác ?

Chính quyến mới được bầu lên, sau một cuộc ẩu đả  tranh  giành quyền lực. Người dân loé lên một tia hy vọng, may  mắn  họ có thể kéo được con tàu đang mắc cạn VN đến bến  bờ  của tự do, hạnh phúc, đến được với văn minh của nhân  loạị Nào ngờ, nó lại tệ hại hơn xưa, nhiều vụ bắt  bớ,  xét xử vô nhân đạo và phi lý, diễn ra với mật độ dày  hơn, gay gắt hơn. Và rồi mới đây, nhân chuyến thăm Trung  Quốc của Tân Tổng Bí Thứ Nông Đức Mạnh, ông ta lại  càng  buộc chặt hơn cái đuôi VN vào con ác thú TQ, bằng việc  ra  tuyên bố thực thi những Hiệp đinh đã ký của triều  đại  trước. Âu cũng chẳng có gì lạ!. Tất cả đều nằm trong  cái  Lôgích tất yếu của một trào lưu đang ở vào giai đoạn  thoái trào, một con thú đang cùng quẫn, ! nên tôi chẳng lấy  gì làm  ngạc nhiên lắm. Nhưng tôi nghe nhiều người nói rằng: ông  Nông Đức Mạnh không có thực quyền, mà quyền hành trực  tiếp lại thuộc về ông Lê Minh Hương. Lê Minh Hương là do  Lê  Đức Anh cho lên, NĐM rất sợ LMH. Việc Hương nắm hết  quyền lực làm cho giới QĐ, không hài lòng, vì CA và QĐ vốn dĩ  coi  nhau như chó với mèo, vả lại từ trước tới giờ QĐ bao  giờ  cũng nắm quyền hành, nên thấy một CA mà lại đứng cao  hơn  họ khiến họ bực bộị Nhưng Hương lại thân với Phạm Văn  Trà, nên họ đành chịụ Trong kỳ họp QH vừa qua, giới QĐ  đòi  cách chức Phạm Văn Trà. Theo suy nghĩ của tôi, nếu Trà mà  bị  hạ bệ, thì sau đó sẽ đến lượt Hương. Hương có vẻ lo  sợ, nên vừa qua Hương cho họp các đồ đệ dưới trướng  để  buộc họ! phải trung thành với triều đình. Thực chất là  vì  qu yền lợi hết, vì ông ta, không hiểu lấy đâu ra tiền  xây  nhà mà tiền móng đã hết 3 tỷ đồng VN, vậy có phải là  vì  quyền lợi không. Giới CA, QĐ bây giờ đã khác xưa, nhiều người cũng có  nhận thức, có anh CA đã nói với tôi, “Chúng cháu vì manh áo,  miếng cơm, mới phải làm cái việc này, chứ nếu có Đảng phái  nào  đủ mạnh, và có uy tín, thì chúng cháu theo ngaỵ Chúng cháu  không muốn con cháu của chúng cháu bị trả thù, mồ mả của  dòng họ bị đào lên, hay bị ỉa lên.” Anh ạ! Tôi tiếc rằng những người CSVN quá ngây thợ Họ tưởng  rằng, sau khi đã đớp xong những món bánh tráng miệng  trên,  thì con thú TQ sẽ giơ bầu sữa mẹ ra để chăm bẵm đứa  hài  nghi VN chăng.... Những nhà lãnh đạo CSVN đã nhầm, không  phải  vú mẹ đâụ....., phía trước là 2! quần đảo Hoàng Sa và  Trường Sa, mà họ đã dòm ngó từ lâu, và đã chiếm một  phần lớn, và còn hơn thế nữa, họ đang dòm ngó những  vùng  đất khác của tạ Nhân đây, tôi cũng xin nhắc rằng, đến  đồng bào của họ, họ còn không thương yêu thì họ, chắc  sẽ  thương yêu đồng bào ta chăng ?. Xin hãy nhớ lại, Cách  Mạng VH  tại TQ đã giết chết 50 triệu con người vô tộị Và gần  đây nhất vụ Thiên An Môn, hàng vạn học sinh, sinh viên đã  bị  nghiền dưới xích xe tăng của bạo tàn. Máu hung bạo, và tư  tưởng đại bá đã ngấm vào máu người Trung Hoạ Và TQ  vẫn  đang ngấm ngầm thực hiện âm mưu Vương triều khu vực.  Có  thể nói CSVN đang “đánh bạc” với số phận của dân tộc. Anh ạ: Chỉ tiếc những nhà lãnh đạo đất nước, lại đang  giúp TQ đồng hoá ngu! +ời VN. Văn hoá, phim ảnh, hàng hoá  của  Tàu tràn ngập thị trường VN. Người VN giờ đây, thuộc  lịch  sử TQ hơn lịch sử VN, bết đến phim ảnh của TQ hơn phim  ảnh  của ta, dùng hàng TQ nhiều hơn hàng nộị Thậm chí đã có  nhiều gia đình đặt tên con theo tên của những nhân vật trong  phim ảnh TQ. Gần đây tôi thấy trên truyền hình chiếu  rất  nhiều bộ phim ca ngợi vua Càn Long, một tên vua đã từng  mang  quân xâm lược VN cuối thế kỷ 18, và đã từng bị vua  Quang  Trung đánh cho đại bại mùa xuân năm kỷ dậu 1789. Có phải  làm  như vậy, là người ta muốn nhắn gửi đến chuyện Càn  Long  giúp Lê Chiêu Thống, hòng để đồng hoá việc CSTQ giúp  CSVN  giữ quyền lực không ?, quả vậy thì nguy to cho dân tộc ta  rồị Người VN ta đang dần dần bị Hán hoá rồị Xin  đừng  lập lại lịch sử. đừng làm Lê Chiêu Thống thứ haị 

Về nhịp độ phát triển của đất nước, chắc Anh nghe qua  đài, báo đều tuyên truyền rằng tăng trưởng KT mỗi năm  trên 7%, nhưng đó chỉ là những con số láo toét. Nước ta  trên 70% làm nông nghiệp, mà đất đai thì cằn cỗi, quỹ đất  có  hạn, mỗi hộ gia đình chỉ được vài sào để canh tác  (một  sào Bắc bộ là 360m2 ) . Thử tính mà xem, làm sao với  một ít ruộng như vậy, mà mỗi năm tăng trưởng trên 7%, hoạ  chăng  trồng cây vàng, cây Đôlạ Mức tăng trưởng như nhà  nước  loan tải chỉ là mức tăng ở các thành phố công nghiệp,  mà  cũng chỉ rơi vào túi bọn quan tham, còn dân ta đa số sống  tại  nông thôn, lấy đâu ra có mức tăng như vậỵ Tôi còn nhớ  rằng : Nghị quyết đại hội đảng CS lần VII 1991, đề ra  mục  tiêu đến năm 2001-2002 thu nhập bìn! h quân đầu người  đạt  700-800 USD. Nhưng đến nay thu nhập bình quân đầu người  vẫn  dưới 300 USD, vậy có phải là láo toét không. Mấy năm  gần  đây, nông sản lại luôn rớt giá, khiến đời sống những  người làm nông nghiệp càng khó khăn hơn. Đã thế tại  nhiều  nơi, chính quyền còn cướp đất của dân, để bán cho các  khu  chế xuất, để làm nhà..v.v. Nhiều người lên HN biểu  tình  lắm, CA bắt họ lên xe, họ chống trả quyết liệt, doạ sẽ  tụt  quần ra nếu động đến họ. Trong số những người biểu  tình, có cả những bà mẹ VN Anh hùng. Tôi nghe đâu một số  người bị CA bắt đi giam tại trại phục hồi nhân phẩm ở  Đông Anh, nơi vẫn giam giữ các gái mãi dâm, trong số  những  người bị giam có cả các bà mẹ VN anh hùng. Anh biết không, khi cần đánh nhau đe! Á? có được chính quyền,  thì CS hô hào con em họ, ra ma (.t trận, đến khi thấy họ  có  thể làm lung lay quyền lực của CS, thì CS lại xếp họ vào  loại mãi dâm. Thật đau đớn cho những con người ngây thơ như  họ,  như chúng tôị...CS đã buôn bán máu xương của biết bao con  người VN nàỵ Nhiều người biểu tình phải đi ăn xin tại  HN,  để có tiền mà sống, để đấu tranh đòi lại ruộng  đất  của họ. Nghĩ mà rớt nước mắt, nhưng chẳng thể làm gì  cho  họ được. Anh thân mến! Học thuyết CS như một thứ tôn giáo được  các  Tu sĩ áo nâu, chân đất mắt toét ,du nhập vào nước ta,  nó  như cơn bão lửa, quét sạch những gì nó đi qua, làm chúng  thay  đổi hết thẩỵ Chúng ta đã mắc sai lầm khi du nhập và  áp  dụng những học thuyết ngoại lai, để rồi không kịp hối  vì  những tác hại của nó. Chủ nghĩa CS dẫn đến C! ải cách ruộng  đất, cải tạo Tư sản, và cuộc nội chiến ý thức hệ,  gây  bao tang tóc cho cả một dân tộc, để rồi mới đây tại  kỳ  họp thứ X Quốc hội khoá X ta buộc phải công nhận trong  Hiến  Pháp một thực tế tất yếu, là sự hiện diện của các  thành phần kinh tế Tư bản khác, trong quá trình phát triển của  đất nước, nhưng tiếc rằng nó vẫn bị gắn cái đuôi thú  định  hướng XHCN. Chủ nghĩa CS không hề mang lại gì cho văn minh  nhân  loại, từ năng suất lao, chất lượng sản phẩm, đến  những  phát minh quan trọng, đều do CNTB sáng tạo ra, và từ âm  nhạc,  đến điện ảnh và cả thời trang, cũng là của CNTB. Chúng  ta  phải mạnh dạn cắt bỏ cái khối u cộng sản đã sinh giòi,  cho  dù có phải đau đớn chút ít khi phẫu thuật. Xin hãy cứu  lấy dân tộc na! Àỵ Thế đấy anh ạ! dòng đời vẫn chầm chậm chôi, cu ốn  theo  tất cả những ưu phiền, của cuộc sống, nó mang cái xã  hội  hiện nay, với tất thảy tốt xấu lẫn lộn. Người dân  chúng  tôi, thì bàng quan với sự đời, chỉ vì chúng tôi đã có  một thời ấu trĩ, nhiều lúc nghĩ lại mới thấy mình dại,  nhưng  tất cả những gì đã đi qua đều không thể lấy lại  được.  Càng nói càng kể, càng thấy đau lòng. Tôi , các anh, đã  có  thời đứng ở hai đầu của trận tuyến để bảo vệ ý  thức  hệ của mình, để rồi một ngày phải xét lại những hành  vi  của mình. Tôi biết các anh ở bên đó cũng chỉ như những  người ăn đợ, ở nhờ nên tình cảm lúc nào cũng đau  đáu  một nỗi lòng ưu tư cùng đất nước. Các anh, chúng tôi,  vẫn mong ngóng một ngày công lý lại hiện diện trên mảnh đất  Việt Nam đau thương nàỵ 
Thân ái,
P.T.T
oOo

BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG
Phần Một: 
Trên đất liền, biên giới của một quốc gia là địa giới, là lằn ranh phân định với quốc gia lân cận về các hướng. Trên biển cả, biên giới là đường chu vi của hải phận 12 hải lý tính từ bờ đất hay bờ đảo. 

1.- Địa giới phía bắc: 
“Nước Việt Nam có hình chữ S, chạy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu.” 
Câu nói trên hầu như trở nên một thành ngữ mà mọi người Việt Nam đều biết, và minh xác rằng ải Nam Quan là địa đầu cực bắc cũng như mũi Cà Mâu là địa đầu cực nam của nước Việt Nam. 

Tuy nhiên, trên phương diện địa lý và căn cứ theo bản đồ, ải Nam Quan thuộc tỉnh Lạng Sơn, song tỉnh này lại không nằm ở phần cao nhất của Việt Nam. Có sáu tỉnh địa đầu giáp giới với Trung Quốc ở phía bắc. Từ tây sang đông, các tỉnh địa đầu đó là Lai Châu, Lào Kay, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Hải Ninh. Lai Châu nằm cực tây nhất, tiếp giáp với Lào và Vân Nam, có địa danh nổi tiếng là Điện Biên Phủ nằm gần biên giới Lào Việt. 

Lào Kay cũng tiếp giáp với Vân Nam có rặng Hoàng Liên Sơn cao trên 3000 thước, trùng điệp từ tây bắc sang đông nam. Địa thế hiểm trở với nhiều thung lũng và ghềnh thác, là thượng nguồn của Sông Hồng từ Vân Nam xuống. Con đường bộ & thông thương từ bắc xuống nam khá nhỏ hẹp. Con đường xe hỏa độc nhất chạy từ Hà Nội dọc theo bắc ngạn sông Hồng ngược về hướng tây bắc sang tận Vân Nam. 

Hà Giang có núi Côn Lĩnh và vùng Đồng Văn nằm cực bắc nhất, tiếp giáp với Quảng Tây. Cuối thế kỷ 17, một phần Hà Giang bị thổ dân Thái cắt dâng cho Tàu, đến năm 1728 mới được trả lại. Cao Bằng có biên giới dài nhất với Tàu, tiếp giáp với Quảng Tây. Đời vua Lý Nhân Tông, Cao Bằng bị quân nhà Tống sang xâm lấn vào năm 1076, nhưng bị anh hùng Lý Thường Kiệt đánh đuổi và phải chịu trả đất lại cho Triều Lý. 

Lạng Sơn tiếp giáp Quảng Đông, có các địa danh lịch sử nổi tiếng như vùng biên giới Đồng Đăng với ải Nam Quan, Chi Lăng, thị trấn Kÿ Lừa, núi Vọng Phu, và động Tam Thanh. Lạng Sơn từng chịu đựng nhiều cuộc xâm lấn trong lịch sử và nhiều lần bị sa vào tay người Trung Hoa. Hải Ninh với thị xã Móng Cáy nằm cực đông nhất, tiếp giáp với vịnh Bắc Việt và Quảng Đông. Đất Hải Ninh xưa thuộc quận Giao Chỉ một trong 15 bộ của nước Văn Lang. 

2.- Hải phận hướng đông 
Trước thời đất nước chia đôi, lãnh thổ của Việt Nam gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lãnh hải là phần biển bao quanh lãnh thổ. Đơn vị đo lường của lãnh hải và hải hành là hải lý. Hải lý (nautical mile, knot) là khoảng cách trên biển dài bằng một phút (minute) của chiều dài đường xích đạo quanh trái đất. Vòng quanh trái đất có 360 độ, tức là 21600 hải lý. Tính ra số, một hải lý dài 6080 feet, tức 1853 mét hay 1.85 cây số. Như vậy, so với một dặm đất (một mile bằng 1609 mét) thì hải lý dài hơn một chút, bằng 1.15 dặm. Trước kia, bề dày của lãnh hải được các quốc gia xem là 3 hải lý. Nhưng vào thập niên 70, hầu hết các quốc gia trong đó có Nam, Bắc Việt Nam đều ra tuyên cáo ấn định bề dày hải phận là 12 hải lý. 
Ngoài lãnh hải, các quốc gia đều ấn định chủ quyền an ninh lãnh hải (security territorial water) là 12 hải lý, tính từ hải giới, và chủ quyền khai thác kinh tế là 200 hải lý (Exclusive Economic Zone - EEZ). Sau khi chiếm trọn cả đất nước, nhà cầm quyền CSVN cũng ra tuyên cáo (ngày 12-5-1977), một lần nữa xác định chủ quyền về lãnh hải 12 hải lý, hải phận an ninh 24 hải lý, và vùng đặc quyền kinh tế 240 hải lý, tính từ bờ đất. Tuy nhiên, có một số quốc gia, nêu lý do an ninh quốc phòng, đã tuyên cáo chủ quyền lãnh hải của quốc gia của họ là 200 hải lý thay vì 12 hải lý. Đến ngày 1 tháng 2, 1992, có 12 quốc gia tuyên cáo chủ quyền lãnh hải 200 hải lý (Vũ Hữu San, “Địa Lý Biển Đông,” trang 70). Đây là một sự kiện trái ngược với thỏa ước “Luật Biển Liên Hiệp Quốc.” United Nations Convention on the Law of the Sea, gọi tắt là UNCLOS được công bố ngày 10-12-1982 tại Montego Bay, Jamaica, với chữ ký của 159 đại diện các quốc gia. Sau 12 năm, đến ngày 16-11-1994, có 60 quốc gia phê chuẩn thông qua (ratification). 

Luật Biển Liên Hiệp Quốc ấn định “Biển cả là tài sản chung của nhân loại.” Vấn đề định nghĩa “hòn đảo” có giá trị lãnh thổ để từ đó một quốc gia có thể xác nhận lãnh hải của mình cũng được ghi chú. Điều 121(13) ấn định rằng một hòn đảo không có điều kiện sinh sống cho con người hoặc nguồn lợi kinh tế riêng cho chính nó sẽ không được xem là có lãnh hải hay là vùng đặc quyền kinh tế (Jane's Intelligence Review, Oct 27, 2000). 
Các nước Đông Nam Á đều phê chuẩn Luật Biển Liên Hiệp Quốc. Ngoại trừ Trung Quốc không những không ký kết, không chấp nhận, mà còn ban hành “Luật Lãnh Hải Của Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc” vào năm 1992 để buộc thế giới phải tôn trọng. Một điểm đã tạo nên tranh chấp lộn xộn nhất của “Luật Lãnh Hải Trung Quốc” là “Nam Hải (tức Biển Đông của Việt Nam) là nội hải của Trung Quốc.” Vấn đề này sẽ được trình bày và phân tích chi tiết ở các phần sau. 

IỊ- Các biến cố liên hệ đến biên giới Việt - Hoa từ thập niên 1950 đến nay 
Từ khi chiếm trọn vẹn Trung Hoa lục địa, Bắc Kinh đã theo đuổi một chính sách bành trướng lãnh thổ. Trước hết là việc công bố bản đồ lãnh thổ và hải phận bao gồm một biên giới rộng lớn chưa hề được ghi chép trong lịch sử, gây ra nhiều cuộc tranh chấp với các nước láng giềng. Đặc biệt, đối với vương quốc Tây Tạng theo hệ thống “Phật Pháp Trị,” mà các vị “phật sống” (Dalai Lama) có quyền hành tương tự như các vị quân vương trong chế độ quân chủ, Bắc Kinh đã dùng chiêu bài “giải phóng” để đánh chiếm và ép buộc quốc gia này theo chế độ cộng sản. Tình trạng lấn chiếm này cũng tương tự như nước Mông Cổ ở phương bắc. Từ thập niên 60 đến nay, Bắc Kinh tranh chấp biên giới với cả Liên Sô và Ấn Độ. Hải Phận Việt Nam [BBC News] Hope for Vietnam China sea dispute Tuesday, 26 September, 2000, 13:44 GMT 14:44 UK 
Riêng đối với Việt Nam, cuộc lấn chiếm bờ cõi Việt Nam của Bắc Kinh khá khốc liệt, liên tục và có hệ thống, vừa trên đất liền vừa ngoài biển cả. Sau đây là một số dữ kiện được góp nhặt trên sách báo Việt Nam lẫn quốc tế. 

1.- Cuộc đụng độ tại Hoàng Sa (Paracels) năm 1974 giữa Việt Nam Cộng Hòa Trên bản đồ hàng hải, quần đảo Hoàng Sa, mà Trung Quốc gọi là Xisha (Tây Sa), là một chuỗi gồm trên 100 đảo nhỏ nằm ngoài khơi Việt Nam, giữa kinh tuyến 111 độ và 113 độ Đông và từ vĩ tuyến 15 độ 45 đến 17 độ 05 Bắc. Một cách đơn giản, quần đảo này nằm cách bờ biển Quảng Trị và Thừa Thiên khoảng 170 hải lý về hướng Đông. Quần đảo này cách bờ biển Trung Hoa lục địa và Phi Luật Tân trên 400 hải lý. Trận hải chiến tại Hoàng Sa vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 giữa Trung Quốc và Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã được kể lại khá chi tiết bởi những cựu quân nhân Hải Quân VNCH, đa số từng tham dự trận đánh, và đã được đăng trên đặc san Lướt Sóng của hội Bạch Đằng, cựu quân nhân Hải Quân VNCH tại San Jose. Hiện nay những bài viết và các phóng đồ hành quân có thể được tìm thấy trên mạng lưới của Tổng Hội Hải Quân và Hàng Hải VNCH: 
http://www.vietnamnavy.com/hoangsa.html 

Vào thăm trang web trên, độc giả có thể tìm thấy trên 20 bài viết gồm văn, thơ. Đặc biệt là những bài viết giá trị của ba vị học giả sau đây: 
- Ông Hà Văn Ngạc, “Những Diễn Biến Đưa Tới Trận Hải Chiến Hoàng Sa,” 1998; ông Hà Văn Ngạc là cựu Hải Quân Đại Tá Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân Trần Hưng Đạo có nhiệm vụ bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

- Ông Vũ Hữu San, “Sau 24 Năm Nhớ Về Hải Chiến Hoàng Sa,” 1998; ông Vũ Hữu San là cựu Hải Quân Trung Tá Hạm Trưởng Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ 4 tham chiến ngày 19-1-74. Ngoài bài viết trên, ông còn là tác giả của một cuốn sách biên soạn công phu, tựa đề “Địa Lý Biển Đông Với Hoàng Sa Và Trường Sa,” Nhà In Hương Quê, 1995. 

- Ông Trần Đỗ Cẩm, “Trận Hải Chiến Tại Quần Đảo Hoàng Sa,” 1998; đây là một thiên phóng sự có kèm nhiều hình ảnh, bản đồ chi tiết về quần đảo Hoàng Sa và cuộc hải chiến ngày 19-1-74, mà tác giả cho biết là trích trong tác phẩm “Biển Đông Nổi Sóng.” Ông Trần Đỗ Cẩm cũng là một cựu sĩ quan Hải Quân thâm niên và hiện nay là Chủ Bút Nguyệt San Đoàn Kết tại Austin, Texas. Mặc dù không tham dự trận hải chiến Hoàng Sa, ông đã phỏng vấn các người tham dự và sưu tầm thêm tài liệu để viết nên các tài liệu rất giá trị. Trong phạm vi bài này, người viết chỉ xin phép các tác giả tóm lược nội vụ cùng trích dẫn một vài bản đồ và hình ảnh để dùng làm tài liệu cho việc phân tích vấn đề tranh chấp biên giới ở phần Hai. Đoàn chiến hạm của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa gồm 4 chiến hạm khá lỗi thời, do Hoa Kÿ chế tạo từ Đệ Nhị Thế Chiến. Các chiến hạm này do Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc chỉ huy, đến quần đảo Hoàng Sa với nhiệm bảo vệ lãnh thổ của Việt Nam. Trước đó, Hải Quân nhận được tin từ các đơn vị trấn giữ quần đảo báo cáo cho biết một số đảo đã bị quân đội Trung Quốc đổ bộ và chiếm đóng. Đây là sự kiện chưa hề xảy ra trong lịch sử cả hai nước. Sáng ngày 19 tháng 1, năm 1974, Khu Trục Hạm (DES) HQ 4 và Tuần Dương Hạm (WHEC) HQ 5 cho các toán Người Nhái Biệt Hải đổ bộ tái chiếm đảo Cam Tuyền, Quang-Hòa (Duncan) và Hình 4 Biên Thùy Việt Nam 5 12/09/01 một số đảo khác. Quân đội Trung Quốc trên các đảo khác được bảo vệ bởi 4 chiến hạm tương đối tân tiến với vận tốc nhanh gấp đôi. Sau khi Tuần Dương Hạm HQ 16 và Hộ Tống Hạm (MSF) HQ 10 nhập vùng hành quân, Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc cho tàu chớp đèn hiệu yêu cầu chiến hạm của Trung Quốc bốc lính đổ bộ và rời quần đảo. Hiệu lệnh không được tuân theo, Đại Tá Ngạc nhân danh sứ mệnh bảo vệ bờ cõi, ra lệnh các chiến hạm khai hỏa, bắn vào tàu Trung Quốc, và bị các tàu này bắn trả. Sau vài giờ giao chiến, bốn chiến hạm của Trung Quốc bị bất khiển dụng, trong đó có hai chiếc bị chìm. Riêng HQ 10, một loại tàu rà mìn trong thế chiến 2 được tân trang, cũng bị bắn chìm, Hạm Trưởng và Hạm Phó đều bị tử thương cùng một số nhân viên. HQ 16 bị rủi ro trúng đạn của HQ 5 vào phòng truyền tin nên mất liên lạc vô tuyến và chạy về căn cứ Đà Nẵng. Phát hiện 4 chiến hạm Trung Cộng có tốc độ nhanh từ hướng đông bắc chạy xuống tiếp ứng, hai chiến hạm HQ 4 và HQ 5 nhận lệnh bỏ hải đảo chạy về căn cứ. Ngày hôm sau, lực lượng trú phòng của VNCH đã bị tràn ngập. Hai toán quân đã đổ bộ cũng bị quân đội Trung Quốc bắt giữ và một thời gian sau mới được giao trả cho VNCH. Sự phản đối của chính phủ VNCH đối với cuộc xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc đã bị gián đoạn với biến cố thôn tính miền Nam của CSVN vào năm 1975. Từ đó Trung Quốc chiếm giữ trọn vẹn quần đảo Hoàng Sa mà không còn gặp một đối kháng nào về phía nhà cầm quyền CSVN. 
Nguyên nhân của hiện tượng khác thường này sẽ được phân tích ở phần sau. Một điểm đặc biệt cần được nêu ra ở đây, là các học giả Việt Nam gốc Hải Quân VNCH không hề nhắc đến sự tham chiến của không quân VNCH cũng như của không lực Trung Quốc. Thế nhưng tài liệu của Jane's Intelligence Review (“A Code of Conduct For South China Sea,” Jane Information Group, 27/10/2000) thì xác quyết là Trung Quốc có sử dụng không lực. Tình trạng quần đảo này được tổ chức truyền thông này tóm lược như sau: 

“The Paracel Islands (Xisha Islands to China) are located in the northwestern part of the South China Sea and are claimed by China and Vietnam. China occupied the Paracels following an air and sea battle with South Vietnamese troops in January 1974. Since then, China has set about upgrading military facilities on the islands. To extend the naval air force's power projection into the South China Sea, China is believed to have extended its airstrip on Woody Island in the Paracels to over 2,500m, providing a forward base and staging area for extending the range of its aircraft.” 
2.- Cuộc xâm lăng biên giới Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc Đầu năm 1979, Trung Quốc xua quân tràn sang biên giới Việt Nam, với sự tuyên truyền là để “dạy cho Việt Nam một bài học.” Cuộc xâm lăng biên giới Việt Nam bắt đầu vào ngày 17 tha'ng 2, 1979. Theo cuốn sách “China's War with Vietnam,” King C. Chen, Stanford, CA, Hoover Institution, Press, 1987), sau hai tuần lễ giao chiến dữ dội giữa hai bên, Trung Quốc tuyên bố đã chiếm được ba trong sáu thị xã nằm địa đầu giới tuyến, là Cao Bằng, Lạng Sơn, và Lào Kay. Hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn ở gần nhau. Còn Lào Kay và Cao Bằng nằm hai bên tỉnh Hà Giang. Điều này chứng tỏ Trung Quốc đã tiến quân tràn qua biên giới bằng ít nhất là ba ngã. Các thị xã Lào Kay, Cao Bằng và Lạng Sơn tương đối dễ đến từ Trung Quốc. Lào Kay tiếp giáp với biên giới hai nước và có trạm giao thông với Trung Quốc. Trạm thông thương biên giới thứ hai, và quan trọng hơn, là ải Nam Quan, tức Hữu Nghị Quan phía bắc thị xã Lạng Sơn. Bắc Kinh rất khó điều quân tới Lai Châu và Hà Giang, vì đường Quốc Lộ 2 thông thương giữa hai nước qua Hà Giang khá cheo leo, rặng Hoàng Liên Sơn chắn ngang biên giới tây bắc rất hiểm trở và khó vượt qua. Căn cứ trên địa hình các tỉnh và lời tuyên bố của Bắc Kinh, thì cánh quân phía tây từ Vân Nam tiến sang chiếm được Lào Kay rồi tiến về phía đông theo Quốc Lộ 70 dọc bắc ngạn sông Hồng. theo lời kể lại của một số sĩ quan bị bắt đi tù “cải tạo” trên rặng núi Hoàng Liên Sơn, thì họ được đảng CSVN cấp tốc di chuyển về phía nam trong thời gian đó. 

Cánh quân phía tây tràn sang biên giới không gặp nhiều chống cự khi chiếm thị trấn Lào Kay nằm sát biên giới. Nhưng sau đó thì bị chận lại vì thung lũng sông Hồng và sông Lô quá hiểm trở. Đường xe hỏa xuyên quốc gia chạy dọc theo bắc ngạn sông Hồng cũng là một cản trở vì có quá nhiều cầu đã cũ bên sườn núi thẳng vách và dễ bị phá v”. Cuộc tiến quân hai đạo ở phía đông của Bắc Kinh sang Cao Bằng và Lạng Sơn sau này được xác nhận bởi hai ký giả Robert Storey và Daniel Robinson (“Vietnam,” Lonely Planet Publications, 3rd Edition, 1995, trang 506 và 517). Cánh quân xâm chiếm Lạng Sơn hùng hậu hơn cánh quân tấn công Cao Bằng, xuất phát từ tỉnh Quảng Đông tràn qua biên giới từ ải Nam Quan, rồi theo Quốc Lộ 4 chiếm các quận lệ địa đầu là Đồng Đăng, Kÿ Lừa và sau đó là thị xã Lạng Sơn. Theo ký giả Bruce Elleman, (“Sino-Soviet Relations and the February 1979 Sino-Vietnamese Conflict,” 1996), lực lượng của Trung Quốc có khoảng 250 ngàn (“quarter million men”), chia làm nhiều đạo quân ồ ạt tràn sang biên giới nhưng đã bị quân địa phương trấn thủ tiền đồn dùng du kích chiến làm chậm cuộc tiến quân trong khi chờ đợi quân chính quy được điều động từ miền Nam Việt Nam lên tiếp ứng. Theo Cameron W. Barr, The Christian Science Monitor - International, Oct 3/1997, được bà Nguyễn Thị Dương trước kia ở Lạng Sơn nhưng nay cư ngụ tại Đồng Đăng cho biết, quân Trung Quốc tràn sang biên giới tiến về thị xã Lạng Sơn. Tại đây, họ gặp sức kháng cự của quân phòng vệ (town's defenders) và phải tiến chiếm từng căn nhà. Vì vậy mà một phần lớn của thành phố Lạng Sơn đã đổ nát tan hoang sau hơn một tuần chịu đựng lửa đạn từ hai phía. Sau 16 ngày xâm chiếm các vùng biên giới lãnh thổ Việt Nam, đột nhiên vào ngày 5 March, 1979 Bắc Kinh rút hết quân về. Họ tuyên bố mục đích cho Hà Nội “một bài học” đã đạt. Thế nhưng cuộc rút lui của họ đã xảy ra cùng lúc với hai sự kiện làm cho dư luận chú ý: 

- Nhiều đơn vị chính quy của bộ đội CSVN đang được điều động từ miền Nam lên miền biên giới để chuẩn bị ứng chiến khi quân Trung Quốc tràn xuống sâu hơn trong nội địa (ở đây xin mở một ghi chú: CSVN chỉ thị quân đội trú phòng chống trả mãnh liệt và điều động quân đội chính quy ứng chiến có phải xuất phát từ quyết tâm bảo vệ lãnh thổ không hay vì động cơ nào khác? Vấn đề này sẽ được phân tích ở phần sau). - Trung Quốc gài lại phía nam biên giới trên hai triệu quả mìn chôn trên các lối đi hay đồng ruộng, và trên các đồi núi, với mục đích là ngăn chặn sự truy kích từ đằng sau trong khi đoàn quân Biên Thùy Việt Nam 7 12/09/01 Hình 6: Cuộc xâm lấn của Trung Cộng năm 1979 Vùng Trung Cộng lấn chiếm 15/2 - 5/3/1979 Lạng Sơn O ải Nam Quan o o Kÿ Lừa o Đồng Đăng Bắc Giang Thái Nguyên Bắc Cạn Tuyên Quang Cao Bằng O Hà Giang Hải Ninh triệt thoái về nước (BBC News Online: “China Ends Huge Mine Clearing Programme,” Asia-Pacific, Au-gust 12, 1999). Một tài liệu khác của BBC (“China Clears Thousands of Landmines on Vietnamese Bor-der,” January 6, 1998) tổng số diện tích các bãi mìn dọc biên giới lên đến 20 triệu mét vuông bao gồm 120 vùng gần 1300 cây số dọc theo biên giới từ Lai Châu sang Hải Ninh (“ Qiu Daxiong, deputy com- mander of the Guangxi Military Area Command, said the mine clearing operation, is expected to clear 120 zones on nearly 20 million sq.m. of ground” ). Mìn gồm 18 loại khác nhau, chỉ có dụng cụ g” mìn tối tân và chuyên gia thông thạo mới tháo g” được. Có nhiều đồi chôn mìn cỏ mọc quá cao, không thể rà được dù là dụng cụ tối tân, phải dùng đến chất nổ làm nổ cả bãi mìn. Cuộc tháo g” mìn được thực hiện từ năm 1993 mãi đến tháng 8 năm 1999 mới hoàn tất. Nhu cầu của “Trung Quốc dạy cho Việt Nam một bài học” đã để lại thương vong khá lớn cho cả hai bên. Chỉ trong hai tuần, tổng số tổn thất của hai đạo quân của Bắc Kinh lên tới trên 20 ngàn, tức gần 1/10 quân số tham chiến (Storey and Robinson, trang 506). những vũ khí đã gây cho Trung Quốc nhiều tổn thất nhất lại chính do họ viện trợ cho Bắc Việt trong cuộc chiến Việt Nam. Tổng số tử vong của hai bên lên tới 56 ngàn người (“The Bloodshed In South-east Asia,” Rod Paschall, The Quarterly Journal of Military History, Nov. 14, 1999), hơn cả số tử vong của quân đội Mỹ trong trên 10 năm tham chiến tại Việt Nam. Theo hai tác giả Robert Storey và Daniel Robinson, thị xã Lạng Sơn và quận Đồng Đăng, cách Lạng Sơn 20 cây số về hướng bắc, đã bị tàn phá trong trận chiến 1979. Hiện nay, phần lớn thành phố vẫn chưa được sửa ch”a, và thường được chỉ cho du khách xem như là một bằng cớ về sự hung hãn của người Tàu (“ evidence of Chinese aggression” ). 

3. Vụ T TT TTrung Quốc xâm chiếm rung Quốc xâm chiếm rung Quốc xâm chiếm rung Quốc xâm chiếm rung Quốc xâm chiếm T TT TTrường Sa (Spratly Islands) và đánh chìm chiến hạm của rường Sa (Spratly Islands) và đánh chìm chiến hạm của rường Sa (Spratly Islands) và đánh chìm chiến hạm của rường Sa (Spratly Islands) và đánh chìm chiến hạm của rường Sa (Spratly Islands) và đánh chìm chiến hạm của V VV VViệt cộng năm 1988 iệt cộng năm 1988 iệt cộng năm 1988 iệt cộng năm 1988 iệt cộng năm 1988 Hiện nay có khá nhiều tài liệu về vụ Trung Cộng xâm chiếm Trường Sa (Tàu gọi là Nansha - Nam Sa) và công bố bản đồ lãnh hải bao gồm cả Biển Đông Hải (Tàu gọi là Nanhai - Nam Hải). Về phía Việt Nam, có các cựu sĩ quan Hải Quân VNCH như: - Ông Vũ H”u San với tác phẩm “Địa Lý Biển Đông Với Hoàng Sa và Trường Sa.” - Ông Trần Đỗ Cẩm với bài viết “Tình Hình Chiếm Đóng Tại Quần Đảo Trường Sa,” đăng trên website của Tổng Hội Hải Quân và Hàng Hải http://www.vietnamnavy.com 

Tuy nhiên tài liệu giá trị và chính thức nhất là cuốn Bạch Thư của bộ Ngoại Giao của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa được công bố sau vụ Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa và trước khi Sài Gòn thất thủ. Tài liệu này có thể được tìm thấy trong mạng lưới “Pacific Forum - The Discussion Proceeds For Peace.” Đây là một tài liệu khá dày, trên 50 trang, viết bằng Anh ng”, có tựa đề là “White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands.” Đính kèm cuốn bạch thư là “Tuyên Cáo của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, February 14, 1974.” Cả hai tài liệu có ghi xuất xứ và thời gian là “Republic of Vietnam, Ministry of Foreign Affairs, Saigon, 1975,” nhưng vì không phải là nguyên bản nên không có phóng ảnh của ch” ký hay dấu triện của cơ quan này. Về phía quốc tế, có nhiều tài liệu, trong số đó, các bài viết sau đây chứa nhiều chi tiết quan trọng: - “A code of Conduct for the South China Sea?”, Jane's Intelli-gence Review, Oct 27, 2000. Hình 7: Một vùng biên giới phía bắc Đồng Đăng, nơi Trung Quốc đã gài mìn trong khi triệt thoái năm 1979. Hiện nay mìn đã được tháo gỡ qua hiệp ước 12/1999 “South China Sea Dispute: Prospects For Preventive Diplo-macy,” United States Institution of Peace Special Report. - “Spratly Islands,” FAS Military Analysis Network, John Pike, Jan 30, 2000. - “Spratly Islands Dispute (Spratly Case No. 325),” Trade and Environ-ment Database Project, April 30, 1996. 

Nhìn qua bản đồ (hình 8 và 9), quần đảo Trường Sa có vẻ gần với Philippines và Malaysia hơn Việt Nam. Tuy nhiên, các tài liệu quốc tế đều xác nhận sự có mặt của người Việt Nam từ thế kỷ thứ 17 hoặc xưa hơn, trong khi Đài Loan chỉ mới hiện diện trên một hòn đảo sau Thế Chiến thứ hai, khi tiếp thu sự bại trận của Nhật Bản. Còn Philippines và Malay-sia thì mới chiếm giữ và tuyên bố chủ quyền trên một vài đảo sau cuộc thất thủ của Việt Nam Cộng Hòa. Biển Đông là một trong vài vùng biển có nhiều tàu bè qua lại nhất, vì là đường giao thương từ Nhật, Đại Hàn, Mỹ từ hướng đông-bắc xuống tây-nam tiếp cận với Thai-land, Malaysia, Singapore, Ấn Độ, v.v... Biển Đông cũng nổi tiếng về nguồn lợi ngư sản hầu như bất tận vì đáy biển không sâu và có nhiều chỗ sinh sản (habitats) cho nhiều loại cá. Từ hậu bán thế kỷ 20 đến nay, với sự khám phá dầu hỏa và khí đốt trong Biển Đông, quần đảo Trường Sa đột nhiên trở thành quan trọng như một vùng tài nguyên trù phú. Theo tài liệu của Jane's Intelligence, toàn vùng Trường Sa gồm khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ và 200 bãi đá ngầm. Diện tích tổng số đá nổi lên trên mặt nước chỉ vào khoảng 8 cây số vuông thôi, nhưng trải ra một diện tích mặt biển khoảng 240 ngàn cây số vuông (tài liệu của ỤS. Institution of Peace ghi 800 ngàn cây số vuông). Ngoài triển vọng dầu hỏa và khí đốt, quần đảo này có tầm mức quan trọng về chiến lược, nếu quốc gia chiếm giữ hải đảo hay đá ngầm có quyền xác nhận hải phận 12 hải lý quanh bờ đảo và 200 hải lý đặc quyền kính tế ngư sản. 

Cuộc lấn chiếm Trường Sa của Trung Quốc có tầm mức quy mô và nguy hiểm cho Việt Nam về cả hai phương diện kinh tế và chiến lược (sẽ được phân tích ở phần sau). Cuộc lấn chiếm đầu tiên xảy ra năm 1976, sau khi họ đã thành công trong việc cư”ng chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của VNCH vào năm 1974, như đã sơ lược trình bày trong phần nói về Hoàng Sa. Cũng theo phương pháp lấn chiếm cố h”u của kẻ ỷ mạnh làm càn, Trung Cộng đưa tàu chiến xâm nhập và đổ bộ trên các hòn đảo không có người ở, cùng lúc ngang ngược công bố với thế giới rằng “ toàn thể Nam Hải là nội hải của Trung Quốc và các quần đảo Trường Sa, Tây Sa là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời cổ xưa.” Năm 1988, cuộc xâm lấn liên tục của Bắc Kinh đạt quá mức chịu đựng của Hà Nội. Trong một cuộc đụng độ tại vùng đá ngầm Fiery Cross Reef (Bãi Ch” Thập) vào ngày 14-3- 1988, Hải Quân Trung Quốc đánh chìm ba chiến hạm của Hải Quân CSVN, gây tử thương cho trên 72 thủy thủ đoàn. Đó là lần thứ nhì sau cuộc chiến 1979, mà hai nước cộng sản “anh em” vì quyền lợi quốc gia đã không tôn trọng “nghĩa vụ quốc tế” của chủ nghĩa cộng sản. Từ khi cư”ng chiếm vùng đá ngầm này, Trung Quốc đã biến nó thành một “hòn đảo nhân tạo” (arificial island) bằng cách xây cất trên vùng đá này một căn cứ tiếp liệu, một sân đáp trực thăng nhằm mục đích kiểm soát không phận, một cầu nổi dài 300 mét có khả năng cập cầu cho tàu thủy có trọng tải 4000 tấn, và một trạm máy thu nhận tối tân có khả năng thu nhận hiện tượng và phát sóng báo hiệu thời tiết cho tàu bè qua lại. 

Trên vùng đá ngầm Đa Lực (Johnson Reef) và bãi ch” thập (Fiery Cross Reef), họ kiến trúc nhà ở, chòi canh cho quân lính cư ngụ (hình 11, 12 và 13). Theo Felix K Chang (“Beijing's reach in the South China Sea,” ORBIS, Summer, 1996), cuộc lấn chiếm Trường Sa của Trung Quốc được tiến hành song song với sự thay đổi về quan niệm chiến lược, từ phòng vệ duyên hải (jinhai fangyu) từ phòng vệ duyên hải (jinhai fangyu) từ phòng vệ duyên hải (jinhai fangyu) từ phòng vệ duyên hải (jinhai fangyu) từ phòng vệ duyên hải (jinhai fangyu) sang phòng vệ viễn dương (jinyang fangyu) sang phòng vệ viễn dương (jinyang fangyu) sang phòng vệ viễn dương (jinyang fangyu) sang phòng vệ viễn dương (jinyang fangyu) sang phòng vệ viễn dương (jinyang fangyu). Năm 1992, Trung Quốc bắt giữ 20 tàu chở hàng của Việt Nam từ Hồng Kông đi qua Đông Hải. Tiếp theo, các nước quanh vùng như Phi và Mã Lai cũng lên tiếng phản đối Trung Quốc có tham vọng khống chế các nước quanh vùng Đông Hải. Mặt khác, vì thấy Hà Nội quá yếu kém về mọi phương diện, chính các quốc gia này cũng nhảy vào chiếm đóng một số đảo trong vùng Trường Sa. Cho đến nay qua bao nhiêu lần phản đối một cách yếu ớt, Hà Nội vẫn không hề đưa vấn đề ra trước công pháp quốc tế để đòi lại các đảo đã bị Trung Cộng và các nước cư”ng chiếm. Nguyên do bí ẩn này sẽ được phân tích ở phần sau. 

Dưới đây là bảng tóm lược về các vụ lấn chiếm hải đảo và lãnh hải Việt Nam của Trung Quốc Trung Quốc mang nhiều tàu chiến đến cho quân đổ bộ một số đảo của quần đảo Hoàng Sa. Trận hải chiến xảy ra. VNCH có một chiếc bị chìm. Phía Trung Quốc có hai chiến hạm chìm và 2 bốc cháy phải ủi vào bờ. Trung Quốc tăng viện bằng máy bay và tàu chiến tối tân, VNCH rút về. Hà Nội im lặng thỏa nhượng bằng văn thư của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Trung Quốc tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc tỉnh Hải Nam (tức đảo Hainan) trong sự im lặng của Hà Nội. và sau khi hoàn tất cuộc thôn tính Hoàng Sa, bắt đầu cho tàu và quân chiếm đóng một số đảo của Trường Sa. Hải quân Trung Quốc và CSVN đụng độ tại vùng đá ngầm Ch” Thập (Fiery Cross Reef). Trung Quốc đánh chìm 3 chiến hạm của CSVN và gây tử thương cho 72 thủy thủ. Từ đó Hà Nội giữ im lặng cho đến nay. Tháng 3, Hà Nội tố cáo Bắc Kinh khoan dầu trong hải phận Việt Nam, trong vịnh Bắc Việt, ngoài khơi Côn Sơn, và đỗ bộ vùng đá ngầm Đa Lực. Cũng trong năm đó Trung Quốc bắt giữ 20 tàu Việt Nam chở hàng từ Hồng Kông đi qua Đông Hải. Trung Quốc công bố “Luật Biển của Trung Quốc - Chinese Law” xác quyết toàn vùng Đông Hải là nội hải của họ. 

Xin gửi ý kiến và câu hỏi của quý vị về
trang mạng lưới toàn cầu này về địa chỉ :

PO Box  530068, Orlando, FL 32853-0068 
Tel: 1-888-999-1305, FAX: 1-866-324-8375 
Email: ICRFV@tudotgvn.org or ICRFV@cs.com