|
Hơn hai ngàn
người tự phát kéo nhau biểu
tình trước khu Phước Lộc
Thọ và chợ 99 trên đường
Bolsa, thủ đô tị nạn Quận Cam
Tất cả chuyện ký kết dâng đất nầy, tuy đã xảy ra từ 2 năm nay, nhưng mãi cho tới gần đây mới lọt ra ngoài khi hai nước thi hành nghi thức “đặt cột mốc ranh giơí.” Tổng cộng, ngưòi ta được biết CSVN đã cắt khoảng 790 cây số vuông cho Trung Quốc, nhưng thực sự bao nhiêu đất bị mất, thì có thể nhiều hơn, khó ai biết được một cách chính xác. Bị mất theo phần đất nầy là những địa danh lịch sử như Ải Nam Quan, Phố Đồng Đăng, núi Tô Thị, v.v.. Từ trước tới nay, mọi ngưòi Việt Nam đều thuộc lòng câu nói đất nưóc Việt Nam kéo dài “từ Aûi Nam Quan tới Mũi Cà Mau.” Nay CSVN đã vội vàng sửa lại, “đất nước Việt Nam bắt đầu từ cột mốc cây số 0” để mong chạy tội bán nưóc của họ. Theo sự thú nhận của CSVN sau khi bại lộ thì hai nước anh em XHCN nầy dã ký một hiệp ước về biên giới vào ngày 30-12-1999, và hiệp ưóc về lãnh hải vào ngày 25-15-2000. Hai hiệp ưóc nầy đã thực hiện chủ tâm thần phục và làm hài lòng sự đòi hỏi của đàn anh khổng lồ phưong Bắc, từng làm quan thầy cho CSVN trong thời gian chiến tranh xâm lăng miền Nam. Mục đích và lý do của việc nhượng đất nầy không hề được giải thích vì bất cứ lý do gì, nhưng mọi ngưòi đều hiểu là CSVN triều cống để cầu mong được Trung Quốc bảo đảm cho CSVN được tồn tại trên ngai vàng cai trị đất nước. Từ xưa tới nay, ngưòi ta thưòng nói bọn “buôn dân bán nưóc” để chỉ trích những ai phản bội lại dân tộc, nhưng thưòng nói tới nghĩa bóng. Nay thực sự là nghiã đen để áp dụng cho hành động phản bội tổ quốc và tiền nhân của tập đoàn CSVN buôn dân bán nưóc. Toàn thể ngưòi Viẹt khắp nơi, 3 triệu ngưòi trên thế giới tự do, cùng với 78 triệu ngưòi trong nưóc, đều một lòng phẫn nộ trưóc hành động tội lỗi nầy của CSVN. Đồng bào khắp nơi đã đồng lọat lên tiếng, viết tuyên cáo, tổ chức biểu tình, hội thảo để ghi lại lịch sử hành động bạo ngườc nầy của CSVN. Chưa bao giờ trong lịch sử 4000 dân tộc Việt Nam mà có một chính phủ, một chế độ mà đã bán dân ra biển, tổ chức cho dân ra biển để vơ vét vàng bạc, đã đưa dân đi làm lao nô bên đông âu để trả nợ quan thầy, và nay đã cắt đất hiến dâng cho đàn anh. Quả thật chưa có gì nhơ nhớp và ghê gớm cho bằng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Tuy vậy, cha ông
chúng ta đã từng khẳng định
rõ ràng:
THƯ KHÁNG NGHỊ VỀ HIỆP ƯỚC BIÊN GIỚI TRUNG-VIỆT Ngày 19 tháng
1 năm 2002
Tổng Thư Ký LHQ Kính thưa Ngài, Nhân danh một thành viên trong cộng đonảg nhân loại và nhân danh một người tù lương tâm Việt Nam, tôi gửi đến Ngài bức thư này để phản kháng hai hiệp ước biên giới trên bộ và trên biển Trung-Việt do nhà cầm quyền Trung Hoa và Việt Nam ký kết ngày 30/12/1999 và ngày 25/12/2000, và bắt đầu cắm mốc biên giới trên đất ngày 27/12/2001. Hai hiệp ước này đe dọa nghiêm trọng tới danh dự và quyền lợi của dân tộc Việt Nam và tới hòa bình ổn định trong khu vực Đông Nam Á. Hai hiệp ước biên giới Việt-Trung vừa được ký kết hoàn tòan đi ngược lại quyền lợi của nhân dân Việt Nam vì lần đầu tiên trong lịch sử hai hiệp ước này đã ảnh hưởng tới đường biên giới truyền thống của hai nước Trung Hoa và Việt Nam. Nhiều địa điểm mà hàng ngàn năm qua đã trở thành những phần lãnh thổ và lãnh hãi thân thương của nhân dân Viêt Nam nay đã nằm sâu trong lãnh thổ Trung Quốc. Hai hiệp ước biên giới này được ký kết bởi ban lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản không được nhân dân bầu lên một cách dân chủ và tự dọ Vài người trong số họ không giữ ngay cả một chức trách gì trong chính quyền. Quốc Hội, cơ quan nghe nói đã thông qua hiệp ước thứ nhất (tháng 6 năm 200), cũng không được bầu lên qua những cuộc bầu cử dân chủ, tự do và công bằng, do đó không đại diện cho nhân dân Việt Nam. Ngay cả những thể thức được ấn định trong Hiến Pháp cũng không được thực thi, cụ thể, hai hiệp ước không hề được đem ra thảo luận trên báo chí hay trong các phiên họp của Quốc Hội, và cũng không hề được ấn hành. Ngay chính bản Hiến Pháp cũng không được soạn thảo và ban hành theo đúng các thủ tục và tiên trình dân chủ, bao gồm tất cả các bản Hiến Pháp đã có của các năm 1960, 1976, 1980, 1992 và hiện nay. Người dân bị tước đoạt các quyền dân chủ căn bản, nhất là quyền tín nhiệm và bãi nhiệm những người lãnh đạo đất nước. Ngày nay họ lại bị tước đoạt ngay cả quyền có ý kiến về hai hiệp ước biên giới mà qua đó ban lãnh đạo cộng sản đã đem nhiều phần lãnh địa và lãnh hải quan trọng của tổ quốc ra đổi lấy độc quyền chính trị. Nhân dịp này, tôi xin phép được lưu ý Ngài về sự kiện là ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam, kể từ thập niên 1950 tới nay đã thường xuyên vi phạm và ngay cả xé bỏ các hiệp ước và công ước quốc tế mà họ đã ký kết: Hiệp Định Genève 1954, Hiệp Định Trung Lập Lào 1960, Hiệp Định Ba Lê 1973 (đươc LHQ và 13 nước ký bảo đảm nhưng miền Bắc Việt Nam vẫn xé bỏ va dùng quân sự xâm chiếm miền Nam tháng 4 năm 1975), Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Văn Hóa, Xã Hội và Kinh tế, và Công Ước Quốc T.ế Về các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà họ đã ký kết năm 1982. Những người cầm quyền không do dân bầu, bất hợp pháp, v phạm luật pháp quốc tế như thế không có quyền đại diện nhân dân và quốc gia Việt Nam ký kết hiệp ước biên giới nhượng lãnh thổ cho bất cứ nước nàọ Ngay cả trong những nước dân chủ những hiệp ước quan trọng như thế nếu không được đưa ra thảo luận công khai và trưng cầu dân ý cũng không có giá trị pháp lý. Do đó hai bản hiệp ước biên giới Việt-Trung vừa ký kết là hoàn toàn vô giá trị đối với nhân dân Việt Nam và bất hợp pháp đối với công pháp quốc tế. Nhân dân Viêt Nam không công nhận và không có trách nhiệm phải thi hành hai hiệp ước nàỵ Kính thưa Ngài Tổng Thư Ký, Trong diễn văn nhận giải thưởng Nobel Hoà Bình năm 2001, Ngài đã tuyên bố nếu các chính phủ coi thường pháp trị và vi phạ dân quyền thì "họ trở thành mối đe dọa không phải chỉ cho nhân dân họ, mà cho cả những nước láng giềng và đúng ra, cho toàn thế giới" Ngài cũng cho rằng hiện nay chúng ta cần có những chính quyền "hợp pháp, dân chủ". Ngài cũng ví việc "cứu một co bé Afghanistan" là cứu chính con ngườị Tôi cảm phục và hoàn tòan chia xẻ quan điểm rộng lớn và nhân bản đó của Ngài và mong rằng quan điểm đó sẽ đem lại lợi ích cho mọi dân tộc. Quan điểm của Ngài, nếu được thực hiện, sẽ ảnh hưởng lớn la tới 80 triệu nhân dân Việt Nam mà hơn một thế kỷ nay vẫn hằng trông đợi sớm thoát khỏi cảnh sống nghèo khổ, không có tự do, mất nhân phẩm và thoát khỏi một chế độ không dân chủ, bất hợp pháp. Kể từ ngày thành lập, LHQ đã đạt được những thành quả đáng kể trong việc gìn giữ ổn định, hoà bình và công lý trên toàn thế giớị Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Ngài, LHQ đã đóng góp ngày càng có hiệu quả hơn vào việc xây dựng một đời sống tự do và nhân phẩm tại nhiều quốc gia trên thế giớị Tôi hiểu rằng thế giới còn nhiều khó khăn và nhiều vấn đề nghiêm trọng chưa giải quyết được, và Ngài cùng các đồng sự của Ngài tại LHQ cần nhiều kiên nhẫn để tiếp cận các vấn đề thế giới một cách khéo léo và tế nhị. Tuy nhiên nhân loại đã tiến bô đủ, thời gian đã bị lãng phí nhiều, tôi tin rằng đã đến lúc để cho mỗi con người đuợc quyền có cơ hội sống trong no ấm, hoà bình tự do và nhân phẩm. Tôi tin rằng nếu mọi người có lương tri trên thế giới quyết tâm ngăn chặn những hành động lạm dụng quyền lực vi phạm tự do nhân phẩm của người dân và vi phạm công pháp quốc tế thì chúng ta sẽ bảo vệ được con người và nhân loại sẽ được sống trong hòa bình và công lý. Chính trong tinh thần đó mà tôi, cùng với đồng bào của tôi, đã phản đối hai hiệp ước biên giới Trung-Việt do các chính quyền bất hợp pháp, không do dân cử ký kết, hoàn toàn không có sự chấp thuận của nhân dân và tác hại đến danh dự và quyền lợi của quốc gia chúng tôị. Tôi tin rằng cũng chính trong tinh thần đó mà Ngài đã khẳng định trong diễn văn nhận giải thưởng Nobel Hoà Bình rằng một trong ba mục tiêu ưu tiên của LHQ trong thời gian tới là xúc tiến dân chủ trên toàn thế giớị Tôi hoan ngênh mục tiêu này và tin tưởng rằng Ngài sẽ hỗ trợ cho nhân dân chúng tôi sớm thiết lập được nền dân chủ tại Việt Nam vì tự do nhân phẩm của mỗi người dân Việt Nam hôm nay và ngày mai và vì hoà bình ổn định trong khu vực. Trân trọng
cám ơn và kính chào Ngài
VIỆC THI HÀNH HIỆP ƯỚC BIÊN GIỚI 1999 18 tháng 1 năm 2002 Ngày 27 tháng 12 năm 2001, Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt cộng Lê công Phụng, cùng với Đại Sứ Trung Cộng tại Việt nam đến thị trấn Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh làm lễ xây MỐC đánh dấu biên giới mới dựa theo Hiệp Ước mà Việt Cộng và Trrung cộng ký kết tháng 12 năm 1999. Tại đây, Phụng tuyên bố rằng hai bên đã đồng ý hoàn tất công tác trắc địa, phân định biên giới, dựng các mốc đánh dấu biên giới giữa 2 quốc gia càng sớm càng tốt. Như thế, sẽ giúp thiết lập một biên giới hoà bình, hữu nghị và ổn cố lâu dài[1]. Phiá Việt nam bắt đầu công tác phận định lãnh thổ này bằng cách dựng lên một cột trụ bằng đá granite cao 2.2m, rộng 50 cm ngay tại cổng biên giới Móng Cáị Đây là cột MỐc đầu tiên trong số 1,500 mốc sẽ được đặt dọc biên giới trên một khoảng dài 1,350 cây số[1], trong tổng số 2363 cây số biên giới giữa 2 quốc giạ Cùng lúc đó, tại thị trấn Đông Hưng thuộc Trung Hoa, bên kia Móng Cái, Thứ trưởng Ngoại Giao Trung Cộng là Wang Yi đến dự một buổi lễ tượng tự. Wang ca tụng rằng mối quan hệ Việt-Hoa đã phát triển tốt đẹp mấy năm vừa qua, rằng công tác phân định lãnh thỗ sẽ hoàn tất trong vòng 3 năm. Wang nhấn mạnh rằng công tác này là nền tảng cho việc duy trì an ninh, phát triển phồn vinh và ổn cố vùng biên giới[1]. Tháng 12, 1999,
Việt cộng và Trung cộng đã ký
Hiệp Ước Biên Giớị
Và Quốc Hội Việt nam đã phê
chuẩn Hiệp ước ấy vào tháng
6-2000.
Sau khi tái thiết lập bang giao vào năm 1991, quân trú phòng Trung cộng tại các địa điểm trên đuổi nông dân Việt ra khỏi đất đai của họ. Chúng đưa nông dân Tầu từ bên kia biên giới sang lập nghiệp. Có những báo cáo của truyền thông quốc tế đề cập tới việc lính Trung Cộng đốt nhà nông dân Việt trong vùng Lạng Sơn, cạnh quốc lộ 1, đuổi họ đi, và rằng khi có những biến cố đó, Việt nam không dám gửi phản kháng mạnh cho Trung cộng . Nữ phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao VC chỉ nói rằng từ nay trở đi phía bên kia (ám chỉ Trung Cộng) đừng phạm phải các hành vi đó nữạ Không một ai biết chắc có bao nhiêu vùng tranh chấp; các vùng đó nằm ở đâu; mỗi vùng rộng hẹp ra saọ VC không nói gì đến vấn đề đó được giải quyết như thế nào: như TC tự nguyện trả lại đất cho Việt nam hay trả như thế nàỏ ai là người tiếp nhận; hoặc phần đất nào bị mất về tay Trung cộng? Mới đây, một vài thành viên bất mãn trong Ban Lãnh đạo tiết lộ ít chi tiết: 789 cây số vuông đã bị chuyển nhượng cho Trung cộng qua Hiệp ước 1999. Trong tháng 12 vưa qua, một quan sát viên báo cáo rằng khi ông ta đến thăm Ải Nam Quan- Cưả Aỉ giữa hai quốc gia, được xây bên bờ phía Nam sông Nam Quan, làm ranh giới chia đôi 2 nước, thì bị lính canh cấm đi vàọ Ông ta phải đi vòng sang Trung Hoa, rồi xuống. Báo cáo của ông ta nói rằng cái cổng cũ đã biến mất. Một cổng mới được xây về phiá Nam, cách cổng cũ 5 cây số. Trong thời gian có cuộc chiến, quân Trung cộng tàn phá hết các cơ sơ phiá nam bờ sông. Sau 1991, các cơ sở mới được xây lạị Một tòa nhà hành chánh được dựng lên dùng làm văn phòng lo các dịch vụ như di trú, quan thuế, cảnh sát, anh ninh, quân sự, bưu điện, viễn thông v.v. đã lọt vào tay Trung Cộng. Hơn nữa, các tài sản của tư nhân như khách sạn, nhà hàng, cơ sở buôn bán, nhà cửa nay thuộc quyền sở hữu của Trung Cộng. Nhiều di tích lịch sữ, thắng cảnh cũng chịu cùng chung một số phận[1]. Sự việc
đó xẩy ra như thế nào?
Không ai ngạc nhiên khi biết rằng trong cuộc viếng thăm chính thức vừa qua, Lý Bằng đã đến ôm hôn hai người “bạn thân” là Lê Khả Phiêu và Đỗ Mười dù hai người này đã bị hạ bệ. Để thi hành Hiệp ước, Ủy Ban Phân Định Biên Giới Việt-Hoa được thiết lập. Ủy Ban đã họp phiên họp kỳ II tại Hà nội từ ngày 14 tháng 2 đến 2 tháng 3, 01. Hai bên đã trao đổi quan điểm về 9 bản văn liên quan đến việc phân định biên giớị Họ đồng thuận về thời khoá biểu công tác cho các toán hỗn hợp pbụ trách công việc phân định biên giới, trao đổi bản đồ vị trí các mốc, so sánh các địa điểm nơi đặt mốc, và thảo luận các dấu hiệu mốc được sự dụng[1]. Với sự cam kết của Nông đưc Mạnh, cả hai bên vội vã tổ chức các buổi lễ đặt Mốc biên giới đầu tiên để cho Biên giới mới này trở thành chính thức. Đây là hành vi cuối cùng của VC trong tiến trình chuyển nhượng một phần lãnh thổ cho Trung cộng. Vấn đề
pháp lý.
a) Trao đổi để tìm kiếm sự ủng hộ để ngồi lỳ trên chính quyền là một vấn đề chính trị, không phải là một vật được trao cho bên đối ước. Nếu xẩy ra như vậy, thì Đảng CSVN đã chuyển nhượng vô thường đất đai cho TC. b) Đảng CSVN không là người sở hữu chủ đất Việt nam. Đất ấy thuộc quyền sở hữu của toàn dân. Hiến Pháp VC 1992 có nói rằng đất đai thuộc về tòan thể dân chúng. Đảng (CS) chỉ lãnh đạo nhà nuớc, không làm chủ đất đaị Không ai có thể chuyển cho một đệ tam nhân cái gì mà chính mình không có. Ngoài ra, Đảng CSVN chỉ là một nhóm người, tự nhận rằng có hơn 2 triệu đảng viên, sử dụng các biện pháp khủng bố để đàn áp mọi tiếng nói của dân chúng, nhờ đó nắm giữ quyền hành. Chúng không được bầu để đại diện 80 triệu dân Việt. Việc chuyển nhượng này là công việc riêng giữa hai đảng cộng sản, không có liên hệ gì đến nhân dân Việt nam. Do vậy, việc chuyển nhượng ấy là vô hiệu, và các lãnh đạo Đảng CSVN phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nàỵ. TUYÊN CÁO
Hiệp ước Phân Định Biên Giới trên đất liền đưọc thai nghén tại Trung Hoa từ 1991 với sự cam kết của Tổng bí thư (TBT) Đảng CSVN Đỗ Mườị Rồi TBT Lê khả Phiêu cũng tại Trung Hoa hứa thúc đẩy việc ký kết và Hiệp ước được ký vào tháng năm 1999. Cuối cùng, đầu tháng 12, 01 vừa qua cũng tại Bắc Kinh như 2 TBT tiền nhiệm, TBT Nông đức Mạnh xác nhận trong Thông Cáo Chung thực hiện ngay công tác cắm Mốc biên giớị Đây là bước cuối cùng trong tiến trình chuyển nhượng phần lãnh thổ đó cho TC. Việc cắm Mốc vội vã này là để hợp thức hoá biên giới mới ấy trong một âm mưu chuyển nhượng đất đai của quốc dân Việt nam. Ủy Ban Bảo
Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ trong
các tuyên cáo ngày 29 tháng 4 năm
1995 và ngày 18 tháng 12 năm 2000
đã xác nhận chủ quyền của
Việt nam trên đất liền cũng
như trên mặt biển; tố cáo ĐCSVN
chuyển nhượng bất hợp pháp
các phần đất ấy của dân
tộc Việt nam; và qui trách nhiệm cho
ĐCS làm công việc phi pháp nàỵ
Một lẫn nữa, Ủy Ban tuyên bố
Hiệp ước ấy và biên giới
mới đang được thực
hiện bằng cách cắm Mốc là
vô giá trị vì lẽ: 1) Đất
đai của Việt nam thuộc quyền sở
hữu của quốc dân Việt nam. Chỉ
có quốc dân Việt nam mới có
Làm tại California
ngày 18 tháng 1 năm 2002
Tội Đồ
Dân Tộc
LM Phan Văn Lợi, VN NHỤC NƯỚC
CHẲNG HỀ PHAI
Sự thật
đó ! đau chung cả nước
Chia Nam Bắc, tặc
Hồ gian ác
Mậu Thân đó
! máu hồng tuôn thấm
Một lần nữa
! ra khơi di tản
Tập Đoàn
Đảng, gian tham cướp bóc
Ôi tủi nhục,
“đỉnh cao trí tuệ”
Bộ Đội
đó, cốt dành bảo thủ
Nêu chí dũng,
kiên cường văn võ
Sách Cha Ông
! còn tên lẫn họ
KHAI TRINH TỘI ÁC
CỘNG SẢN
Sau đây là
bài họa :
ĐỐI THOẠI
- ĐỐI THOẠI - ĐỐI THOẠI
Hà nội ngày
1/1/2001.
“Như nước
Đại Việt ta từ trước,
Theo Hiệp Ước Vịnh bắc Bộ được thực dân Pháp đại diện cho VN và triều đình nhà Thanh ký năm 1895, lấy kinh tuyến 108o 3’13’’ làm đường ranh giới phân chia vịnh Bắc Bộ, thì VN được hưởng 64% và TQ được 36%. Không hiểu CSTQ dỗ nhon dỗ ngọt như thế nào, hay là họ đã nắm được gót chân A-Sin của anh CSVN đang ở vào thế yếu trước trào lưu dân chủ trên TG mà cần mong sự bảo trợ nên đã nhân nhượng cho TQ quá nhiều, để mong sự bảo kê, của CSTQ. Sau khi TQ d! dã cắt đi những phần nhiều dầu mỏ và khí đốt gần bán đảo Lôi Châu, phần còn lại chia theo tỷ lệ VN 53% - TQ47%. Tổng cộng ta mất gần 10% diện tích vịnh Bắc Bộ, và khoảng trên 700 Km2 đất liền trên bộ. Vào tháng 7/2001. Ông Vũ Minh Ngọc có đưa bài viết “Đối thoại tháng 6-2001” của cử nhân luật Lê Chí Quang cho Lê Khả Phiêu xem, ông Phiêu dãy nảy lên mà bảo rằng: “ Thôi chết tôi rồi, không phải tôi ký, mà là ông Trần Đức Lương ký...” . Mà suy cho cùng thì ông Trầ Đức Lương mới có đủ tư cách pháp lý trong việc thông qua những hiệp định bán nước trên, và cũng cùng một guồng máy trên. Từ lúc 2 Hiệp định trên chưa thông qua, nhiều tiếng nói dũng cảm trong nước đã lên án chính quyền HN trong 2 Hiệp định trên nhưng tất cả chỉ là nhữn! g ngọn cỏ yếu ớt trước sức nặng bạo hành và không thể kiềm chế được của con ngựa thành Troji độc đảng. Đã vậy mà ông Lê Công Phụng thứ trưởng Bộ Ngoại giao, người tham gia đàm phán từ đầu tới cuối trong những Hiệp định trên còn rống lên trên tạp chí Cộng Sản số 7/2001 là: “Ta được lợi hơn TQ...” . (từ rống không được dùng cho loài người, nhưng đối với những kẻ vong quốc như Lê Công Phụng thì tôi e rằng nó còn quá nhẹ, và tôi xin được đổi tên ông ta là Lê Cung Phụng vì ông đã cung phụng bố Tàu của Ông ). Hôm 28/12/2001 , nhìn bộ mặt nhăn nhở, và hàm răng trắng nhởn của ông Cung Phụng nói nói, cười cười trên TiVi khi chứng kiến lễ đóng cột mốc số 1369 đầu tiên của Hiệp Định bán nước này, lòng tôi như nghẹn lạị không cầm được nước mắt, lấ! y một nén ngang thắp trên bàn thờ, và khóc cho một dân tộc anh hùng đang bị những kẻ vô liêm sỉ bán đứng. Tôi ước sao mình biến thành tráng sĩ Kinh Kha vác gươm ra đi chém bọn Tần Đỏ xâm lược, chỉ tiếc rằng chân yếu tay mềm nên bất lực, nghẹn ngào mà đừng nhìn. Cộng Sản trước đây là những người vô thần, thì nay họ lại mê tín đến mức coi số 1369 là con số linh thiêng có tổng là 9 sẽ báo hiệu một quan hệ tốt lành. Thực chất sự mê tín này là của những kẻ thiếu hiểu biết, của những kẻ lưu manh, máu mê cờ bạc, ba cây, đỏ đen. Con số 1+3+6+9 = 19 họ cho rằng là 9. Nhưng theo thuật chiêm tinh và bốc độn của người Trung Hoa chỉ lấy từ số 1đến số 9, nên còn phải cộng đến khi nào được con số dưới 10 mới thôị Tức là 1+! 9=10; 1+ 0 = 1. Số 1 mới là số chính xác. 1369 sẽ có tổng là 1, và số 1 có phải sẽ báo hiệu một triều đại CS sắp suy tàn. Thôi rồi đất mẹ Việt Nam ơi !... Còn đâu thác Bản Giốc cảnh đẹp đã đi vào niềm tự hào của Cao Bằng .... Còn đâu suối Phi Khanh , nơi Nguyễn Trãi gạt lệ tiễn biệt cha, và rồi ít lâu sau đó trốn vào Thanh Hoá tụ hội cùng nghĩa quân Lam Sơn phục hận : “Đánh một trận sạch không kình ngạc; Đánh trận nữa tan tác chim muông”... Còn đâu Mục Nam Quan đã đi vào câu ca “Nước Việt Nam ta liền một dải; Từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau”... Còn đâu ải Chi Lăng, núi Mã yên nơi “Ngày mười tám tại Chi lăng, Liễu Thăng thua kế; Ngày hai mươi tại Mã Yên, Liễu Thăng rơi đầu”.... Tất cả chỉ còn là dĩ vãng, chỉ còn trên sách vở, khi những tên lưu manh đội lốt vô sản đã ! bán đứng cả dân tộc nàỵ Khi nhắc đến hai chữ lưu manh chắc anh không khỏi thắc mắc?. Vậy tôi xin
ngược dòng lịch sử trở
lại một giai đoạn đau thương
của dân tộc.
Ông Lê Đức
Thọ thì đã được nói
tới quá nhiều, nên tôi
không cần phải! bàn đến nữạ
Những triều đại tiếp sau Duẩn
là Mười - Anh - Kiệt - Phiêụ..,
cũng chỉ là những mắt xích
của cỗ máy nghiền chuyên chính
Vô Sản, đã và đang tiếp
tục bòn rút, cày xới
mảnh đất cằn cỗi, đau thương
VN nàỵ Ông Đỗ Mười,
xuất thân từ một anh bán lợn,
vào những năm 1941-1942 khi bị
Pháp bắt bỏ tù tại Hoả Lò,
ông ta mới biết đọc biết
viết, sau đó ông ta có thời
gian bị điên, bây giờ
tôi thấy thần kinh ông ta không bình
thường. Vụ nhận hối lộ
1 triệu US $ của Hàn quốc bị phát
giác mà ông ta vẫn nhâng
nhâng, coi như không. Nhân đây
tôi cũng xin nói thêm. Người
tố giác Mười nhận hối
lộ lại chính là Tố Hữụ
Cách đây nhiều năm Tẩ HữU
có nhận được một giải
thưởng thơ văn do chính đức
vua Na Uy trao tặng, theo! nghi lễ khi nhận
giải phải quỳ trước mặt
vuạ Khi Tô ‘ Hữu về nước
Đỗ Mười mắng Tố Hữu:
“Anh là người CS mà phải quỳ
trước mặt bọn Đế quốc
à” Tố Hữu ôm hận trong lòng,
tìm ngày báo thù. Lúc biết
Đỗ Mười nhận hối lộ,
Tố Hữu đã lu loa với
bạn bè rằng : “Ông ấy bảo tôi
quỳ trước mặt bọn đế
quốc, còn ông ấy nhận hối
lộ của Đế quốc thì
không sao” Đỗ Mười tức
quá, thấy đớp không xong đành
phải nhả rạ Kể từ đó
Đỗ Mười Tố Hữu không
bao giờ thèm nhìn mặt nhaụ
Thỉnh thoảng ông có những lời
phát biểu mà một người
mất trí cũng nhận thấy thần
kinh ông ta không ổn định,
ví dụ như: “Cơ chế thị trường
theo định hướng XHCN; Cổ
phần hoá theo định hướng
XHCN; Thị trường chứng
khoán theo đinh hướng XHCN...”. Tóm
lại ông ta luôn ăn cắp những
sản phẩm u! +u việt của CNTB để
rồi gắn vào đó cái
đuôi thú XHCN, nói như vậy mà
không biết xấu hổ. Ông Lê Đức
Anh xuất thân là Cai phu đồn điền
(sự vụ này đã bị
nhiều người tố giác). Nhưng
ông là cánh tay phải của
Thọ nên ông vẫn được
đặt vào ghế chủ tịch nước.
Trong kỳ Đại hội đảng CS
lần thứ VII tôi thấy ông nói
những câu hết sức đơn
giản mà vẫn phải cầm giấy
đọc, ví dụ : “Ai đồng
ý thì giơ taỵ.. Ai không đồng
ý thì giơ taỵ.”. Trí tuệ
như vậy thì làm sao lãnh đạo
nổi đất nước, làm
sao mà chúng ta trả đói nghèọ
Ông Phiêu văn hoá lớp 4, từng
là đệ tử của LĐA ở
quân khu
hãng hàng
không VN Airline, khi phát biểu với
cán bộ nhân viên , ông ta
nói : “Các anh thiếu máy bay, thì
mua lấy mà dùng, mua vừa
thôi, mua nhiều lãng phí, dân nó
biết nó chửi cho”. Về câu
này thì tôi không biết viết
gì để bình phẩm. Ông Trần
Đức Lương ngoài việc ký
mấy Hiệp định sai lầm trên,
còn vướng mắc vào một
việc nữạ Ông ký qu! yết
định cho xây dựng khu lọc dầu
Dung Quất tại quê hương ông ở
Quảng
Anh thân mến: Dưới thời Phiêu, khi phong trào tự do, dân chủ, đa nguyên dâng cao trên toàn thế giới, lo sợ bị mất quyền thống trị, và cần sự bảo trợ cho mình nên họ đã triều cống đất đai của tổ tiên mình cho kẻ thù. Bao xương máu của tổ tiên đã đổ xuống để bảo vệ từng tấc đất của biên cương của tổ quốc thì giờ đều trở nên vô nghĩa với họ. Họ nghĩ rằng làm như vậy may ra Trung Cộng có thể bảo trợ cho quyền lãnh đạo vĩnh viễn của họ. Nhưng xin đừng ngây thơ, hai hiệp định kể trên chỉ là món bánh khai vị trong mâm cỗ đại bá khu vực mà TQ đang âm mưu đớp cho bằng được. Khi xưa : Phan Thanh Giản bị triều đình ép buộc phải ký hoà ước nhượng cho thực dân Pháp ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. (tháng10/1866; tức t! háng 9 năm Bính dần, năm Tự Đức thứ 19) khi trở về đau đớn và tủi nhục ông đã tuẫn tiết. Ngày 29/11/1873 (1/10, năm Quý dậu, năm Tự Đức thứ 26) sau khi để mất thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương đã tuyệt thực đến chết. Ngày 26/4/1882 (tức 8/3, Ngâm ngọ, năm Tự Đức thứ 34) sau khi để thành Hà Nội bị thất thủ lần thứ hai, Hoàng Diệu đã treo mình tự vẫn. Cả ba con người kể trên hoàn toàn có quyền lựa chọn sự sống, vì khi đó ta đang ở vào thế yếu, đất nước đã bị thực dân đô hộ, nhưng họ đã chọn cái chết, chỉ vì họ là những con người có liêm sỷ, biết hổ thẹn với lương tâm, vì không làm tròn chữ Trung. Ngày nay những kẻ mãi quốc khi dân vẫn đang nhâng nháo, coi thường dư luận, và đàn áp những tiếng nói khuyên can. Đâ! ‘y là gì nếu không gọi là Vô sản lưu manh!. Thật đau đớn cho dân tộc VN, chưa thoát khỏi ách phong kiến, thực dân, lại oằn mình dưới gót “chân đất mắt toét” (Vô sản thời xưa làm gì có giày) của những kẻ lưu manh đội lốt Vô sản nàỵ Tôi xin trở lại vấn đề thời sự còn nóng bỏng tại VN: Sau khi để các vị Thái Thượng Hoàng dật giây, Phiêu có chút ân hận, không muốn làm con rối trong tay họ, và lại được cánh QĐ ủng hộ nên quyết định đảo chính. Trước tiên Phiêu thành lập A10, trực tiếp do Lê Thanh Ngân chỉ huy, chuyên làm nhiệm vụ theo dõi các vị cố vấn. Bốn phiên họp trù bị trước thềm Đại hội IX, được lữ đoàn 144 bảo vệ, diễn ra rất cẳng thẳng. Trong cuộc họp, theo lệnh của Phiêu, không ai được mang máy ghi âm, hay điện thoại di động, nhưng vẫn có những nguồn tin được rò rỉ ra ngoàị Tại cuộc họp đã có lúc Lê Đức Anh trợn một con mắt, chỉ mặt Lê Khả Phiêu mà bảo rằng: “...anh là thằng ngụ.”. Lê Khả Phiêu đứng phắt dậy, chỉ mặt Đỗ Muời, Lê ! Đức Anh mà bảo rằng: “...các ông bảo tôi ngu, thế lúc đặt tôi vào chiếc ghế này, sao lúc ấy các ông không bảo tôi ngu đị..”. Cuộc họp diễn ra rất căng thẳng, rồi một buổi tối, Lê Minh Hương đến gặp Phạm Văn Trà , hai người nói chuyện với nhau đến khuyạ Hôm sau PVT đào ngũ, khiến con tàu LKP mất lái, đã lao phải đá ngầm. Hồi đó tin đưa từ trong ra, ai cũng nghĩ là Lê Minh Hương sẽ lên làm TBT. Nhưng rồị... Đêm hôm trước ngày họp cuối cùng, Lê Khả Phiêu dẫn một tốp vệ sỹ đến nhà Lê Đức Anh để thương lượng...... .Và những gì diễn ra chúng ta đều đã biết.....! Trong phiên khai mạc Đại hội IX cứ nhìn bộ mặt đỏ phừng phừng, và giọng nói như gào và micro, chúng ta cũng ít nhiều hiển được phần nào sự cay cú của Phiêụ S! au khi bị thất sủng, phải về hưu, Lê Khả Phiêu quay ngo ắt 180 độ, ông ta, thường xuyên tiếp súc với những người đang tranh đấu cho tự do, dân chủ tại VN, như Vũ Minh Ngọc, Trần Nhật Độ, Phạm Quế Dương. vv.. và xúi dục họ thành lập hội chống tham nhũng. Về phần Lê Đức Anh, ngay sau Đại Hội, ông ta bay ngay vào quân khu 9 tập hợp các đồ đệ tại đó, mở đại tiệc ăn mừng thành tích đã lật được tên Giu-Da phản chúạ Nhưng khốn nạn cho ông tạ.. Tình cảm của lũ nghịch tử với ông không được xây dựng trên tình đồng chí, đồng đội, hoặc tình bạn, hay tình cảm thông thường của loài người mà tất cả chỉ vì danh vọng và điạ vị ... nên khi thấy chủ soái của mình là Ma Vương một mắt đã ngã ngựa, thất sủng , và không còn khả năng bảo kê cho chúng, thì chúng cong đuôị.., đá bát.... Khô! ng một tên tiểu yêu nào thèm đến dự. 40 mâm cổ bị ế. Lê Đức Anh uất quá, trào máu ra miệng, phải đưa ra Hà Nội cấp kứu tại bệnh viện 108. Tại đó cũng chẳng ma dại nào thèm đến thăm ông. Mãi về sau mới có ông Nguyễn Văn An tới thăm vì nghĩa vụ chứ không phải vì tình. Đau sót cho thân phận hồi kết của mình, LĐA rơm rớm nước mắt.. “ nếu tôi chết... các đồng chí sẽ tổ chức tang lễ như thế nào”, NVA bĩu môi : “Xin đồng chí cứ yên tâm, mọi việc chúng tôi đã lo liệu đâu vào đấy cả.”. Nhưng thật may mắn, ông ta vẫn chưa chết, bởi tôi mong muốn những kẻ bán nước phải sống đến cái ngày mà bọn chúng phải ra trước vành móng ngựa, chịu sự phán quyết của toà án về tội danh: bán nước. Thế đấy;
sân khấu chính trị của ta là
như vậy đấy, Đôi khi
tôi tưởng đấy là cái
chợ, một phường tuồng, hay
một đấu trường La-Mã thời
Trung cổ. Quả là những nhà lãnh
đạo VN hiện nay đã thực hiện
“đúng” di nguyện của Hồ Chí
Minh: “các vua Hùng đã có
công dựng nước, Bác cháu
ta phải cùng nhaụ.. bán nước”
hay “Chúng ta thà hy sinh tất cả...(cả
đất đai của tổ tiên) chứ
nhất định không chịụ.... (để
mất quyền lãnh đạo)”
Chính quyến mới được bầu lên, sau một cuộc ẩu đả tranh giành quyền lực. Người dân loé lên một tia hy vọng, may mắn họ có thể kéo được con tàu đang mắc cạn VN đến bến bờ của tự do, hạnh phúc, đến được với văn minh của nhân loạị Nào ngờ, nó lại tệ hại hơn xưa, nhiều vụ bắt bớ, xét xử vô nhân đạo và phi lý, diễn ra với mật độ dày hơn, gay gắt hơn. Và rồi mới đây, nhân chuyến thăm Trung Quốc của Tân Tổng Bí Thứ Nông Đức Mạnh, ông ta lại càng buộc chặt hơn cái đuôi VN vào con ác thú TQ, bằng việc ra tuyên bố thực thi những Hiệp đinh đã ký của triều đại trước. Âu cũng chẳng có gì lạ!. Tất cả đều nằm trong cái Lôgích tất yếu của một trào lưu đang ở vào giai đoạn thoái trào, một con thú đang cùng quẫn, ! nên tôi chẳng lấy gì làm ngạc nhiên lắm. Nhưng tôi nghe nhiều người nói rằng: ông Nông Đức Mạnh không có thực quyền, mà quyền hành trực tiếp lại thuộc về ông Lê Minh Hương. Lê Minh Hương là do Lê Đức Anh cho lên, NĐM rất sợ LMH. Việc Hương nắm hết quyền lực làm cho giới QĐ, không hài lòng, vì CA và QĐ vốn dĩ coi nhau như chó với mèo, vả lại từ trước tới giờ QĐ bao giờ cũng nắm quyền hành, nên thấy một CA mà lại đứng cao hơn họ khiến họ bực bộị Nhưng Hương lại thân với Phạm Văn Trà, nên họ đành chịụ Trong kỳ họp QH vừa qua, giới QĐ đòi cách chức Phạm Văn Trà. Theo suy nghĩ của tôi, nếu Trà mà bị hạ bệ, thì sau đó sẽ đến lượt Hương. Hương có vẻ lo sợ, nên vừa qua Hương cho họp các đồ đệ dưới trướng để buộc họ! phải trung thành với triều đình. Thực chất là vì qu yền lợi hết, vì ông ta, không hiểu lấy đâu ra tiền xây nhà mà tiền móng đã hết 3 tỷ đồng VN, vậy có phải là vì quyền lợi không. Giới CA, QĐ bây giờ đã khác xưa, nhiều người cũng có nhận thức, có anh CA đã nói với tôi, “Chúng cháu vì manh áo, miếng cơm, mới phải làm cái việc này, chứ nếu có Đảng phái nào đủ mạnh, và có uy tín, thì chúng cháu theo ngaỵ Chúng cháu không muốn con cháu của chúng cháu bị trả thù, mồ mả của dòng họ bị đào lên, hay bị ỉa lên.” Anh ạ! Tôi tiếc rằng những người CSVN quá ngây thợ Họ tưởng rằng, sau khi đã đớp xong những món bánh tráng miệng trên, thì con thú TQ sẽ giơ bầu sữa mẹ ra để chăm bẵm đứa hài nghi VN chăng.... Những nhà lãnh đạo CSVN đã nhầm, không phải vú mẹ đâụ....., phía trước là 2! quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà họ đã dòm ngó từ lâu, và đã chiếm một phần lớn, và còn hơn thế nữa, họ đang dòm ngó những vùng đất khác của tạ Nhân đây, tôi cũng xin nhắc rằng, đến đồng bào của họ, họ còn không thương yêu thì họ, chắc sẽ thương yêu đồng bào ta chăng ?. Xin hãy nhớ lại, Cách Mạng VH tại TQ đã giết chết 50 triệu con người vô tộị Và gần đây nhất vụ Thiên An Môn, hàng vạn học sinh, sinh viên đã bị nghiền dưới xích xe tăng của bạo tàn. Máu hung bạo, và tư tưởng đại bá đã ngấm vào máu người Trung Hoạ Và TQ vẫn đang ngấm ngầm thực hiện âm mưu Vương triều khu vực. Có thể nói CSVN đang “đánh bạc” với số phận của dân tộc. Anh ạ: Chỉ tiếc những nhà lãnh đạo đất nước, lại đang giúp TQ đồng hoá ngu! +ời VN. Văn hoá, phim ảnh, hàng hoá của Tàu tràn ngập thị trường VN. Người VN giờ đây, thuộc lịch sử TQ hơn lịch sử VN, bết đến phim ảnh của TQ hơn phim ảnh của ta, dùng hàng TQ nhiều hơn hàng nộị Thậm chí đã có nhiều gia đình đặt tên con theo tên của những nhân vật trong phim ảnh TQ. Gần đây tôi thấy trên truyền hình chiếu rất nhiều bộ phim ca ngợi vua Càn Long, một tên vua đã từng mang quân xâm lược VN cuối thế kỷ 18, và đã từng bị vua Quang Trung đánh cho đại bại mùa xuân năm kỷ dậu 1789. Có phải làm như vậy, là người ta muốn nhắn gửi đến chuyện Càn Long giúp Lê Chiêu Thống, hòng để đồng hoá việc CSTQ giúp CSVN giữ quyền lực không ?, quả vậy thì nguy to cho dân tộc ta rồị Người VN ta đang dần dần bị Hán hoá rồị Xin đừng lập lại lịch sử. đừng làm Lê Chiêu Thống thứ haị Về nhịp
độ phát triển của đất
nước, chắc Anh nghe qua đài,
báo đều tuyên truyền rằng
tăng trưởng KT mỗi năm trên
7%, nhưng đó chỉ là những
con số láo toét. Nước ta
trên 70% làm nông nghiệp, mà đất
đai thì cằn cỗi, quỹ đất
có hạn, mỗi hộ gia đình
chỉ được vài sào để
canh tác (một sào Bắc bộ
là 360m2 ) . Thử tính mà xem, làm
sao với một ít ruộng như vậy,
mà mỗi năm tăng trưởng
trên 7%, hoạ chăng trồng cây
vàng, cây Đôlạ Mức tăng
trưởng như nhà nước
loan tải chỉ là mức tăng ở
các thành phố công nghiệp, mà
cũng chỉ rơi vào túi bọn quan
tham, còn dân ta đa số sống
tại nông thôn, lấy đâu
ra có mức tăng như vậỵ Tôi
còn nhớ rằng : Nghị quyết
đại hội đảng CS lần VII 1991,
đề ra mục tiêu đến
năm 2001-2002 thu nhập bìn! h quân đầu
người đạt 700-800 USD. Nhưng
đến nay thu nhập bình quân đầu
người vẫn dưới
300 USD, vậy có phải là láo toét
không. Mấy năm gần đây,
nông sản lại luôn rớt giá,
khiến đời sống những
người làm nông nghiệp càng
khó khăn hơn. Đã thế tại
nhiều nơi, chính quyền còn cướp
đất của dân, để bán
cho các khu chế xuất, để
làm nhà..v.v. Nhiều người lên
HN biểu tình lắm, CA bắt họ
lên xe, họ chống trả quyết liệt,
doạ sẽ tụt quần ra nếu
động đến họ. Trong số những
người biểu tình, có cả
những bà mẹ VN Anh hùng. Tôi
nghe đâu một số người
bị CA bắt đi giam tại trại phục
hồi nhân phẩm ở Đông
Anh, nơi vẫn giam giữ các gái
mãi dâm, trong số những
người bị giam có cả các
bà mẹ VN anh hùng. Anh biết không,
khi cần đánh nhau đe! Á? có
được chính quyền, thì
CS hô hào con em họ, ra ma (.t trận, đến
khi thấy họ có thể làm
lung lay quyền lực của CS, thì CS lại
xếp họ vào loại mãi dâm.
Thật đau đớn cho những con
người ngây thơ như họ,
như chúng tôị...CS đã buôn
bán máu xương của biết bao con
người VN nàỵ Nhiều người
biểu tình phải đi ăn xin tại
HN, để có tiền mà sống,
để đấu tranh đòi lại
ruộng đất của họ. Nghĩ
mà rớt nước mắt, nhưng
chẳng thể làm gì cho họ
được. Anh thân mến! Học thuyết
CS như một thứ tôn giáo được
các Tu sĩ áo nâu, chân đất
mắt toét ,du nhập vào nước
ta, nó như cơn bão lửa,
quét sạch những gì nó đi
qua, làm chúng thay đổi hết
thẩỵ Chúng ta đã mắc sai lầm
khi du nhập và áp dụng những
học thuyết ngoại lai, để rồi
không kịp hối vì những
tác hại của nó. Chủ nghĩa CS
dẫn đến C! ải cách ruộng
đất, cải tạo Tư sản, và
cuộc nội chiến ý thức hệ,
gây bao tang tóc cho cả một dân
tộc, để rồi mới đây
tại kỳ họp thứ X Quốc
hội khoá X ta buộc phải công nhận
trong Hiến Pháp một thực tế
tất yếu, là sự hiện diện
của các thành phần kinh tế
Tư bản khác, trong quá trình phát
triển của đất nước,
nhưng tiếc rằng nó vẫn bị gắn
cái đuôi thú định
hướng XHCN. Chủ nghĩa CS không
hề mang lại gì cho văn minh nhân
loại, từ năng suất lao, chất
lượng sản phẩm, đến
những phát minh quan trọng, đều
do CNTB sáng tạo ra, và từ âm
nhạc, đến điện ảnh và
cả thời trang, cũng là của
CNTB. Chúng ta phải mạnh dạn cắt
bỏ cái khối u cộng sản đã
sinh giòi, cho dù có phải đau
đớn chút ít khi phẫu thuật.
Xin hãy cứu lấy dân tộc
na! Àỵ Thế đấy anh ạ! dòng
đời vẫn chầm chậm chôi,
cu ốn theo tất cả những
ưu phiền, của cuộc sống, nó mang
cái xã hội hiện nay, với
tất thảy tốt xấu lẫn lộn.
Người dân chúng tôi,
thì bàng quan với sự đời,
chỉ vì chúng tôi đã có
một thời ấu trĩ, nhiều lúc
nghĩ lại mới thấy mình dại,
nhưng tất cả những gì đã
đi qua đều không thể lấy lại
được. Càng nói càng
kể, càng thấy đau lòng. Tôi
, các anh, đã có thời
đứng ở hai đầu của
trận tuyến để bảo vệ ý
thức hệ của mình, để
rồi một ngày phải xét lại những
hành vi của mình. Tôi biết
các anh ở bên đó cũng
chỉ như những người ăn
đợ, ở nhờ nên tình
cảm lúc nào cũng đau đáu
một nỗi lòng ưu tư cùng đất
nước. Các anh, chúng tôi,
vẫn mong ngóng một ngày công lý
lại hiện diện trên mảnh đất
Việt Nam đau thương nàỵ
BIÊN GIỚI
VIỆT - TRUNG
1.- Địa
giới phía bắc:
Tuy nhiên, trên phương diện địa lý và căn cứ theo bản đồ, ải Nam Quan thuộc tỉnh Lạng Sơn, song tỉnh này lại không nằm ở phần cao nhất của Việt Nam. Có sáu tỉnh địa đầu giáp giới với Trung Quốc ở phía bắc. Từ tây sang đông, các tỉnh địa đầu đó là Lai Châu, Lào Kay, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Hải Ninh. Lai Châu nằm cực tây nhất, tiếp giáp với Lào và Vân Nam, có địa danh nổi tiếng là Điện Biên Phủ nằm gần biên giới Lào Việt. Lào Kay cũng tiếp giáp với Vân Nam có rặng Hoàng Liên Sơn cao trên 3000 thước, trùng điệp từ tây bắc sang đông nam. Địa thế hiểm trở với nhiều thung lũng và ghềnh thác, là thượng nguồn của Sông Hồng từ Vân Nam xuống. Con đường bộ & thông thương từ bắc xuống nam khá nhỏ hẹp. Con đường xe hỏa độc nhất chạy từ Hà Nội dọc theo bắc ngạn sông Hồng ngược về hướng tây bắc sang tận Vân Nam. Hà Giang có núi Côn Lĩnh và vùng Đồng Văn nằm cực bắc nhất, tiếp giáp với Quảng Tây. Cuối thế kỷ 17, một phần Hà Giang bị thổ dân Thái cắt dâng cho Tàu, đến năm 1728 mới được trả lại. Cao Bằng có biên giới dài nhất với Tàu, tiếp giáp với Quảng Tây. Đời vua Lý Nhân Tông, Cao Bằng bị quân nhà Tống sang xâm lấn vào năm 1076, nhưng bị anh hùng Lý Thường Kiệt đánh đuổi và phải chịu trả đất lại cho Triều Lý. Lạng Sơn tiếp giáp Quảng Đông, có các địa danh lịch sử nổi tiếng như vùng biên giới Đồng Đăng với ải Nam Quan, Chi Lăng, thị trấn Kÿ Lừa, núi Vọng Phu, và động Tam Thanh. Lạng Sơn từng chịu đựng nhiều cuộc xâm lấn trong lịch sử và nhiều lần bị sa vào tay người Trung Hoa. Hải Ninh với thị xã Móng Cáy nằm cực đông nhất, tiếp giáp với vịnh Bắc Việt và Quảng Đông. Đất Hải Ninh xưa thuộc quận Giao Chỉ một trong 15 bộ của nước Văn Lang. 2.- Hải phận
hướng đông
Luật Biển
Liên Hiệp Quốc ấn định “Biển
cả là tài sản chung của nhân
loại.” Vấn đề định nghĩa
“hòn đảo” có giá trị lãnh
thổ để từ đó một
quốc gia có thể xác nhận lãnh
hải của mình cũng được
ghi chú. Điều 121(13) ấn định
rằng một hòn đảo không có
điều kiện sinh sống cho con người
hoặc nguồn lợi kinh tế riêng cho
chính nó sẽ không được
xem là có lãnh hải hay là vùng
đặc quyền kinh tế (Jane's Intelligence Review,
Oct 27, 2000).
IỊ- Các
biến cố liên hệ đến biên
giới Việt - Hoa từ thập niên
1950 đến nay
1.- Cuộc đụng
độ tại Hoàng Sa (Paracels) năm 1974 giữa
Việt Nam Cộng Hòa Trên bản đồ
hàng hải, quần đảo Hoàng Sa,
mà Trung Quốc gọi là Xisha (Tây Sa),
là một chuỗi gồm trên 100 đảo
nhỏ nằm ngoài khơi Việt Nam, giữa
kinh tuyến 111 độ và 113 độ Đông
và từ vĩ tuyến 15 độ 45
đến 17 độ 05 Bắc. Một cách
đơn giản, quần đảo này
nằm cách bờ biển Quảng Trị
và Thừa Thiên khoảng 170 hải
lý về hướng Đông. Quần
đảo này cách bờ biển
Trung Hoa lục địa và Phi Luật Tân
trên 400 hải lý. Trận hải chiến
tại Hoàng Sa vào ngày 19 tháng 1
năm 1974 giữa Trung Quốc và Việt
Nam Cộng Hòa (VNCH) đã được
kể lại khá chi tiết bởi những
cựu quân nhân Hải Quân VNCH, đa
số từng tham dự trận đánh,
và đã được đăng
trên đặc san Lướt Sóng của
hội Bạch Đằng, cựu quân nhân
Hải Quân VNCH tại San Jose. Hiện nay những
bài viết và các phóng đồ
hành quân có thể được
tìm thấy trên mạng lưới
của Tổng Hội Hải Quân và Hàng
Hải VNCH:
Vào thăm
trang web trên, độc giả có thể
tìm thấy trên 20 bài viết gồm
văn, thơ. Đặc biệt là những
bài viết giá trị của ba vị
học giả sau đây:
- Ông Vũ Hữu San, “Sau 24 Năm Nhớ Về Hải Chiến Hoàng Sa,” 1998; ông Vũ Hữu San là cựu Hải Quân Trung Tá Hạm Trưởng Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ 4 tham chiến ngày 19-1-74. Ngoài bài viết trên, ông còn là tác giả của một cuốn sách biên soạn công phu, tựa đề “Địa Lý Biển Đông Với Hoàng Sa Và Trường Sa,” Nhà In Hương Quê, 1995. - Ông Trần
Đỗ Cẩm, “Trận Hải Chiến Tại
Quần Đảo Hoàng Sa,” 1998; đây
là một thiên phóng sự có
kèm nhiều hình ảnh, bản đồ
chi tiết về quần đảo Hoàng
Sa và cuộc hải chiến ngày 19-1-74,
mà tác giả cho biết là trích
trong tác phẩm “Biển Đông Nổi
Sóng.” Ông Trần Đỗ Cẩm cũng
là một cựu sĩ quan Hải Quân
thâm niên và hiện nay là Chủ
Bút Nguyệt San Đoàn Kết tại
Austin, Texas. Mặc dù không tham dự trận
hải chiến Hoàng Sa, ông đã
phỏng vấn các người tham dự
và sưu tầm thêm tài liệu để
viết nên các tài liệu rất
giá trị. Trong phạm vi bài này, người
viết chỉ xin phép các tác giả
tóm lược nội vụ cùng trích
dẫn một vài bản đồ và
hình ảnh để dùng làm tài
liệu cho việc phân tích vấn đề
tranh chấp biên giới ở phần
Hai. Đoàn chiến hạm của Hải
Quân Việt Nam Cộng Hòa gồm 4 chiến
hạm khá lỗi thời, do Hoa Kÿ chế
tạo từ Đệ Nhị Thế Chiến.
Các chiến hạm này do Hải Quân
Đại Tá Hà Văn Ngạc chỉ
huy, đến quần đảo Hoàng Sa
với nhiệm bảo vệ lãnh thổ
của Việt Nam. Trước đó,
Hải Quân nhận được tin từ
các đơn vị trấn giữ quần
đảo báo cáo cho biết một số
đảo đã bị quân đội
Trung Quốc đổ bộ và chiếm đóng.
Đây là sự kiện chưa hề
xảy ra trong lịch sử cả hai nước.
Sáng ngày 19 tháng 1, năm 1974, Khu Trục
Hạm (DES) HQ 4 và Tuần Dương Hạm
(WHEC) HQ 5 cho các toán Người Nhái
Biệt Hải đổ bộ tái chiếm
đảo Cam Tuyền, Quang-Hòa (Duncan) và
Hình 4 Biên Thùy Việt Nam 5 12/09/01 một
số đảo khác. Quân đội
Trung Quốc trên các đảo khác
được bảo vệ bởi 4 chiến
hạm tương đối tân tiến với
vận tốc nhanh gấp đôi. Sau khi Tuần
Dương Hạm HQ 16 và Hộ Tống Hạm
(MSF) HQ 10 nhập vùng hành quân, Hải
Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc
cho tàu chớp đèn hiệu yêu
cầu chiến hạm của Trung Quốc bốc
lính đổ bộ và rời quần
đảo. Hiệu lệnh không được
tuân theo, Đại Tá Ngạc nhân danh
sứ mệnh bảo vệ bờ cõi,
ra lệnh các chiến hạm khai hỏa, bắn
vào tàu Trung Quốc, và bị các
tàu này bắn trả. Sau vài giờ
giao chiến, bốn chiến hạm của Trung
Quốc bị bất khiển dụng, trong đó
có hai chiếc bị chìm. Riêng HQ 10,
một loại tàu rà mìn trong thế
chiến 2 được tân trang, cũng
bị bắn chìm, Hạm Trưởng và
Hạm Phó đều bị tử thương
cùng một số nhân viên. HQ 16 bị
rủi ro trúng đạn của HQ 5 vào
phòng truyền tin nên mất liên lạc
vô tuyến và chạy về căn cứ
Đà Nẵng. Phát hiện 4 chiến hạm
Trung Cộng có tốc độ nhanh từ
hướng đông bắc chạy xuống
tiếp ứng, hai chiến hạm HQ 4 và
HQ 5 nhận lệnh bỏ hải đảo chạy
về căn cứ. Ngày hôm sau, lực
lượng trú phòng của VNCH đã
bị tràn ngập. Hai toán quân đã
đổ bộ cũng bị quân đội
Trung Quốc bắt giữ và một thời
gian sau mới được giao trả
cho VNCH. Sự phản đối của chính
phủ VNCH đối với cuộc xâm
chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc đã
bị gián đoạn với biến
cố thôn tính miền Nam của CSVN vào
năm 1975. Từ đó Trung Quốc chiếm
giữ trọn vẹn quần đảo Hoàng
Sa mà không còn gặp một đối
kháng nào về phía nhà cầm
quyền CSVN.
“The Paracel Islands (Xisha
Islands to China) are located in the northwestern part of the South China
Sea and are claimed by China and Vietnam. China occupied the Paracels following
an air and sea battle with South Vietnamese troops in January 1974. Since
then, China has set about upgrading military facilities on the islands.
To extend the naval air force's power projection into the South China Sea,
China is believed to have extended its airstrip on Woody Island in the
Paracels to over 2,500m, providing a forward base and staging area for
extending the range of its aircraft.”
Cánh quân phía tây tràn sang biên giới không gặp nhiều chống cự khi chiếm thị trấn Lào Kay nằm sát biên giới. Nhưng sau đó thì bị chận lại vì thung lũng sông Hồng và sông Lô quá hiểm trở. Đường xe hỏa xuyên quốc gia chạy dọc theo bắc ngạn sông Hồng cũng là một cản trở vì có quá nhiều cầu đã cũ bên sườn núi thẳng vách và dễ bị phá v”. Cuộc tiến quân hai đạo ở phía đông của Bắc Kinh sang Cao Bằng và Lạng Sơn sau này được xác nhận bởi hai ký giả Robert Storey và Daniel Robinson (“Vietnam,” Lonely Planet Publications, 3rd Edition, 1995, trang 506 và 517). Cánh quân xâm chiếm Lạng Sơn hùng hậu hơn cánh quân tấn công Cao Bằng, xuất phát từ tỉnh Quảng Đông tràn qua biên giới từ ải Nam Quan, rồi theo Quốc Lộ 4 chiếm các quận lệ địa đầu là Đồng Đăng, Kÿ Lừa và sau đó là thị xã Lạng Sơn. Theo ký giả Bruce Elleman, (“Sino-Soviet Relations and the February 1979 Sino-Vietnamese Conflict,” 1996), lực lượng của Trung Quốc có khoảng 250 ngàn (“quarter million men”), chia làm nhiều đạo quân ồ ạt tràn sang biên giới nhưng đã bị quân địa phương trấn thủ tiền đồn dùng du kích chiến làm chậm cuộc tiến quân trong khi chờ đợi quân chính quy được điều động từ miền Nam Việt Nam lên tiếp ứng. Theo Cameron W. Barr, The Christian Science Monitor - International, Oct 3/1997, được bà Nguyễn Thị Dương trước kia ở Lạng Sơn nhưng nay cư ngụ tại Đồng Đăng cho biết, quân Trung Quốc tràn sang biên giới tiến về thị xã Lạng Sơn. Tại đây, họ gặp sức kháng cự của quân phòng vệ (town's defenders) và phải tiến chiếm từng căn nhà. Vì vậy mà một phần lớn của thành phố Lạng Sơn đã đổ nát tan hoang sau hơn một tuần chịu đựng lửa đạn từ hai phía. Sau 16 ngày xâm chiếm các vùng biên giới lãnh thổ Việt Nam, đột nhiên vào ngày 5 March, 1979 Bắc Kinh rút hết quân về. Họ tuyên bố mục đích cho Hà Nội “một bài học” đã đạt. Thế nhưng cuộc rút lui của họ đã xảy ra cùng lúc với hai sự kiện làm cho dư luận chú ý: - Nhiều đơn vị chính quy của bộ đội CSVN đang được điều động từ miền Nam lên miền biên giới để chuẩn bị ứng chiến khi quân Trung Quốc tràn xuống sâu hơn trong nội địa (ở đây xin mở một ghi chú: CSVN chỉ thị quân đội trú phòng chống trả mãnh liệt và điều động quân đội chính quy ứng chiến có phải xuất phát từ quyết tâm bảo vệ lãnh thổ không hay vì động cơ nào khác? Vấn đề này sẽ được phân tích ở phần sau). - Trung Quốc gài lại phía nam biên giới trên hai triệu quả mìn chôn trên các lối đi hay đồng ruộng, và trên các đồi núi, với mục đích là ngăn chặn sự truy kích từ đằng sau trong khi đoàn quân Biên Thùy Việt Nam 7 12/09/01 Hình 6: Cuộc xâm lấn của Trung Cộng năm 1979 Vùng Trung Cộng lấn chiếm 15/2 - 5/3/1979 Lạng Sơn O ải Nam Quan o o Kÿ Lừa o Đồng Đăng Bắc Giang Thái Nguyên Bắc Cạn Tuyên Quang Cao Bằng O Hà Giang Hải Ninh triệt thoái về nước (BBC News Online: “China Ends Huge Mine Clearing Programme,” Asia-Pacific, Au-gust 12, 1999). Một tài liệu khác của BBC (“China Clears Thousands of Landmines on Vietnamese Bor-der,” January 6, 1998) tổng số diện tích các bãi mìn dọc biên giới lên đến 20 triệu mét vuông bao gồm 120 vùng gần 1300 cây số dọc theo biên giới từ Lai Châu sang Hải Ninh (“ Qiu Daxiong, deputy com- mander of the Guangxi Military Area Command, said the mine clearing operation, is expected to clear 120 zones on nearly 20 million sq.m. of ground” ). Mìn gồm 18 loại khác nhau, chỉ có dụng cụ g” mìn tối tân và chuyên gia thông thạo mới tháo g” được. Có nhiều đồi chôn mìn cỏ mọc quá cao, không thể rà được dù là dụng cụ tối tân, phải dùng đến chất nổ làm nổ cả bãi mìn. Cuộc tháo g” mìn được thực hiện từ năm 1993 mãi đến tháng 8 năm 1999 mới hoàn tất. Nhu cầu của “Trung Quốc dạy cho Việt Nam một bài học” đã để lại thương vong khá lớn cho cả hai bên. Chỉ trong hai tuần, tổng số tổn thất của hai đạo quân của Bắc Kinh lên tới trên 20 ngàn, tức gần 1/10 quân số tham chiến (Storey and Robinson, trang 506). những vũ khí đã gây cho Trung Quốc nhiều tổn thất nhất lại chính do họ viện trợ cho Bắc Việt trong cuộc chiến Việt Nam. Tổng số tử vong của hai bên lên tới 56 ngàn người (“The Bloodshed In South-east Asia,” Rod Paschall, The Quarterly Journal of Military History, Nov. 14, 1999), hơn cả số tử vong của quân đội Mỹ trong trên 10 năm tham chiến tại Việt Nam. Theo hai tác giả Robert Storey và Daniel Robinson, thị xã Lạng Sơn và quận Đồng Đăng, cách Lạng Sơn 20 cây số về hướng bắc, đã bị tàn phá trong trận chiến 1979. Hiện nay, phần lớn thành phố vẫn chưa được sửa ch”a, và thường được chỉ cho du khách xem như là một bằng cớ về sự hung hãn của người Tàu (“ evidence of Chinese aggression” ). 3. Vụ T TT TTrung Quốc xâm chiếm rung Quốc xâm chiếm rung Quốc xâm chiếm rung Quốc xâm chiếm rung Quốc xâm chiếm T TT TTrường Sa (Spratly Islands) và đánh chìm chiến hạm của rường Sa (Spratly Islands) và đánh chìm chiến hạm của rường Sa (Spratly Islands) và đánh chìm chiến hạm của rường Sa (Spratly Islands) và đánh chìm chiến hạm của rường Sa (Spratly Islands) và đánh chìm chiến hạm của V VV VViệt cộng năm 1988 iệt cộng năm 1988 iệt cộng năm 1988 iệt cộng năm 1988 iệt cộng năm 1988 Hiện nay có khá nhiều tài liệu về vụ Trung Cộng xâm chiếm Trường Sa (Tàu gọi là Nansha - Nam Sa) và công bố bản đồ lãnh hải bao gồm cả Biển Đông Hải (Tàu gọi là Nanhai - Nam Hải). Về phía Việt Nam, có các cựu sĩ quan Hải Quân VNCH như: - Ông Vũ H”u San với tác phẩm “Địa Lý Biển Đông Với Hoàng Sa và Trường Sa.” - Ông Trần Đỗ Cẩm với bài viết “Tình Hình Chiếm Đóng Tại Quần Đảo Trường Sa,” đăng trên website của Tổng Hội Hải Quân và Hàng Hải http://www.vietnamnavy.com Tuy nhiên tài liệu giá trị và chính thức nhất là cuốn Bạch Thư của bộ Ngoại Giao của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa được công bố sau vụ Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa và trước khi Sài Gòn thất thủ. Tài liệu này có thể được tìm thấy trong mạng lưới “Pacific Forum - The Discussion Proceeds For Peace.” Đây là một tài liệu khá dày, trên 50 trang, viết bằng Anh ng”, có tựa đề là “White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands.” Đính kèm cuốn bạch thư là “Tuyên Cáo của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, February 14, 1974.” Cả hai tài liệu có ghi xuất xứ và thời gian là “Republic of Vietnam, Ministry of Foreign Affairs, Saigon, 1975,” nhưng vì không phải là nguyên bản nên không có phóng ảnh của ch” ký hay dấu triện của cơ quan này. Về phía quốc tế, có nhiều tài liệu, trong số đó, các bài viết sau đây chứa nhiều chi tiết quan trọng: - “A code of Conduct for the South China Sea?”, Jane's Intelli-gence Review, Oct 27, 2000. Hình 7: Một vùng biên giới phía bắc Đồng Đăng, nơi Trung Quốc đã gài mìn trong khi triệt thoái năm 1979. Hiện nay mìn đã được tháo gỡ qua hiệp ước 12/1999 “South China Sea Dispute: Prospects For Preventive Diplo-macy,” United States Institution of Peace Special Report. - “Spratly Islands,” FAS Military Analysis Network, John Pike, Jan 30, 2000. - “Spratly Islands Dispute (Spratly Case No. 325),” Trade and Environ-ment Database Project, April 30, 1996. Nhìn qua bản đồ (hình 8 và 9), quần đảo Trường Sa có vẻ gần với Philippines và Malaysia hơn Việt Nam. Tuy nhiên, các tài liệu quốc tế đều xác nhận sự có mặt của người Việt Nam từ thế kỷ thứ 17 hoặc xưa hơn, trong khi Đài Loan chỉ mới hiện diện trên một hòn đảo sau Thế Chiến thứ hai, khi tiếp thu sự bại trận của Nhật Bản. Còn Philippines và Malay-sia thì mới chiếm giữ và tuyên bố chủ quyền trên một vài đảo sau cuộc thất thủ của Việt Nam Cộng Hòa. Biển Đông là một trong vài vùng biển có nhiều tàu bè qua lại nhất, vì là đường giao thương từ Nhật, Đại Hàn, Mỹ từ hướng đông-bắc xuống tây-nam tiếp cận với Thai-land, Malaysia, Singapore, Ấn Độ, v.v... Biển Đông cũng nổi tiếng về nguồn lợi ngư sản hầu như bất tận vì đáy biển không sâu và có nhiều chỗ sinh sản (habitats) cho nhiều loại cá. Từ hậu bán thế kỷ 20 đến nay, với sự khám phá dầu hỏa và khí đốt trong Biển Đông, quần đảo Trường Sa đột nhiên trở thành quan trọng như một vùng tài nguyên trù phú. Theo tài liệu của Jane's Intelligence, toàn vùng Trường Sa gồm khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ và 200 bãi đá ngầm. Diện tích tổng số đá nổi lên trên mặt nước chỉ vào khoảng 8 cây số vuông thôi, nhưng trải ra một diện tích mặt biển khoảng 240 ngàn cây số vuông (tài liệu của ỤS. Institution of Peace ghi 800 ngàn cây số vuông). Ngoài triển vọng dầu hỏa và khí đốt, quần đảo này có tầm mức quan trọng về chiến lược, nếu quốc gia chiếm giữ hải đảo hay đá ngầm có quyền xác nhận hải phận 12 hải lý quanh bờ đảo và 200 hải lý đặc quyền kính tế ngư sản. Cuộc lấn chiếm Trường Sa của Trung Quốc có tầm mức quy mô và nguy hiểm cho Việt Nam về cả hai phương diện kinh tế và chiến lược (sẽ được phân tích ở phần sau). Cuộc lấn chiếm đầu tiên xảy ra năm 1976, sau khi họ đã thành công trong việc cư”ng chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của VNCH vào năm 1974, như đã sơ lược trình bày trong phần nói về Hoàng Sa. Cũng theo phương pháp lấn chiếm cố h”u của kẻ ỷ mạnh làm càn, Trung Cộng đưa tàu chiến xâm nhập và đổ bộ trên các hòn đảo không có người ở, cùng lúc ngang ngược công bố với thế giới rằng “ toàn thể Nam Hải là nội hải của Trung Quốc và các quần đảo Trường Sa, Tây Sa là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời cổ xưa.” Năm 1988, cuộc xâm lấn liên tục của Bắc Kinh đạt quá mức chịu đựng của Hà Nội. Trong một cuộc đụng độ tại vùng đá ngầm Fiery Cross Reef (Bãi Ch” Thập) vào ngày 14-3- 1988, Hải Quân Trung Quốc đánh chìm ba chiến hạm của Hải Quân CSVN, gây tử thương cho trên 72 thủy thủ đoàn. Đó là lần thứ nhì sau cuộc chiến 1979, mà hai nước cộng sản “anh em” vì quyền lợi quốc gia đã không tôn trọng “nghĩa vụ quốc tế” của chủ nghĩa cộng sản. Từ khi cư”ng chiếm vùng đá ngầm này, Trung Quốc đã biến nó thành một “hòn đảo nhân tạo” (arificial island) bằng cách xây cất trên vùng đá này một căn cứ tiếp liệu, một sân đáp trực thăng nhằm mục đích kiểm soát không phận, một cầu nổi dài 300 mét có khả năng cập cầu cho tàu thủy có trọng tải 4000 tấn, và một trạm máy thu nhận tối tân có khả năng thu nhận hiện tượng và phát sóng báo hiệu thời tiết cho tàu bè qua lại. Trên vùng đá ngầm Đa Lực (Johnson Reef) và bãi ch” thập (Fiery Cross Reef), họ kiến trúc nhà ở, chòi canh cho quân lính cư ngụ (hình 11, 12 và 13). Theo Felix K Chang (“Beijing's reach in the South China Sea,” ORBIS, Summer, 1996), cuộc lấn chiếm Trường Sa của Trung Quốc được tiến hành song song với sự thay đổi về quan niệm chiến lược, từ phòng vệ duyên hải (jinhai fangyu) từ phòng vệ duyên hải (jinhai fangyu) từ phòng vệ duyên hải (jinhai fangyu) từ phòng vệ duyên hải (jinhai fangyu) từ phòng vệ duyên hải (jinhai fangyu) sang phòng vệ viễn dương (jinyang fangyu) sang phòng vệ viễn dương (jinyang fangyu) sang phòng vệ viễn dương (jinyang fangyu) sang phòng vệ viễn dương (jinyang fangyu) sang phòng vệ viễn dương (jinyang fangyu). Năm 1992, Trung Quốc bắt giữ 20 tàu chở hàng của Việt Nam từ Hồng Kông đi qua Đông Hải. Tiếp theo, các nước quanh vùng như Phi và Mã Lai cũng lên tiếng phản đối Trung Quốc có tham vọng khống chế các nước quanh vùng Đông Hải. Mặt khác, vì thấy Hà Nội quá yếu kém về mọi phương diện, chính các quốc gia này cũng nhảy vào chiếm đóng một số đảo trong vùng Trường Sa. Cho đến nay qua bao nhiêu lần phản đối một cách yếu ớt, Hà Nội vẫn không hề đưa vấn đề ra trước công pháp quốc tế để đòi lại các đảo đã bị Trung Cộng và các nước cư”ng chiếm. Nguyên do bí ẩn này sẽ được phân tích ở phần sau. Dưới đây là bảng tóm lược về các vụ lấn chiếm hải đảo và lãnh hải Việt Nam của Trung Quốc Trung Quốc mang nhiều tàu chiến đến cho quân đổ bộ một số đảo của quần đảo Hoàng Sa. Trận hải chiến xảy ra. VNCH có một chiếc bị chìm. Phía Trung Quốc có hai chiến hạm chìm và 2 bốc cháy phải ủi vào bờ. Trung Quốc tăng viện bằng máy bay và tàu chiến tối tân, VNCH rút về. Hà Nội im lặng thỏa nhượng bằng văn thư của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Trung Quốc tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc tỉnh Hải Nam (tức đảo Hainan) trong sự im lặng của Hà Nội. và sau khi hoàn tất cuộc thôn tính Hoàng Sa, bắt đầu cho tàu và quân chiếm đóng một số đảo của Trường Sa. Hải quân Trung Quốc và CSVN đụng độ tại vùng đá ngầm Ch” Thập (Fiery Cross Reef). Trung Quốc đánh chìm 3 chiến hạm của CSVN và gây tử thương cho 72 thủy thủ. Từ đó Hà Nội giữ im lặng cho đến nay. Tháng 3, Hà Nội tố cáo Bắc Kinh khoan dầu trong hải phận Việt Nam, trong vịnh Bắc Việt, ngoài khơi Côn Sơn, và đỗ bộ vùng đá ngầm Đa Lực. Cũng trong năm đó Trung Quốc bắt giữ 20 tàu Việt Nam chở hàng từ Hồng Kông đi qua Đông Hải. Trung Quốc công bố “Luật Biển của Trung Quốc - Chinese Law” xác quyết toàn vùng Đông Hải là nội hải của họ.
|
PO Box 530068, Orlando,
FL 32853-0068
|