TRUNG QUỐC XÂM CHIẾM LĂNH HẢI VIỆT NAM VÀ HỆ LỤY

ĐVH (1/2008)

Ngày 2 tháng 12 năm 2007, Quốc Vụ Viện Trung Trung Quốc (tức Quốc Hội) tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản trị một số quần đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là một bước tiến mới nữa trong việc xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Truớc sự kiện này, Bộ Ngoạị giao Hà Nội lên tiếng phản kháng yếu ớt dường như cho lấy lệ, hay há miệng mắc quai ??

Trước t́nh h́nh này, Người Việt Nam dù trong hay ngoài nước, dù khuynh hướng chính trị như thế nào đều rất đau xót khi đất nước bị xâm chiếm. Lịch sử chứng minh toàn dân đều một ḷng trước hoạ xâm lăng.

       

Mọi nguời đều căm phẫn về hành động xâm lấn của Trung Quốc, đồng thời lên án thái độ yếu hèn của chính quyền CS Hà Nội. Trong và ngoài nước đều nổi lên những nỗi căm hờn như sóng biển Đông đang dậy

Ngày 16 tháng 12, Sinh Việt Nam tổ chức biểu t́nh tự phát phản đối TQ tại Hà Nội và Sàigon. Phát ngôn viên Lê Dũng trấn an với TQ là những cuộc biểu t́nh này bất hợp pháp và sẽ bị giải tán.

Ngày 20 tháng 12, 2007, Trung Quốc lên tiếng đe doạ: biểu t́nh làm tổn thương t́nh hữu nghị  và yêu cầu CS Hà Nội phải giải quyết.

Ngày 23 tháng 12, sinh viên tiếp tục tổ chức biểu t́nh tại Sài gon và Hà Nội nhưng bị công an giải tán, bắt bớ một số người. Họ c̣n kết án là biểu t́nh do phản động xúi giục.

Tại Hoa Thịnh Đốn, cộng đồng Việt Nam biểu t́nh chống Trung Quốc. Tại Luân Đôn, Paris và nhiều nơi khác cộng đồng Việt Nam cũng đă tổ chức biểu t́nh chống TQ tương tự.

Nhiều tuyên cáo, kháng thư khắp nơi trên thế giới lên án TQ xâm luợc lănh thổ và lănh hải Việt Nam, trong khi nhà cầm quyền Hà Nội không dám có phản ứng thích ứng.

Tại Việt Nam, các trang blog cá nhân đă lên tiến, phổ biến những suy nghĩ, ư kiến phản kháng TQ. Tuy nhiên, báo chí của nhà cầm quyền tuyệt đối im hơi lặng tiếng. Tổng Biên Tập một tờ báo ở Việt Nam v́ đăng ư kiến về vụ Trung Quốc xâm chiếm lănh hăi đă bị phạt nặng và bị cách chức.

 

Biểu t́nh ở trong nước. Công an đàn áp người biểu t́nh.

     

     Biểu t́nh ở hải ngoại

     

Tại Luân Đôn, Anh Quốc

Lịch sử tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa Trường Sa theo thời gian:

(Theo Wikimedia Encyclopedia)

Để hiểu rơ hơn về hai quần đảo này, chúng tôi xin lược thuật lịch sử chủ quyền, lịch sử tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về các hải đảo trên biển Nam Hải nay bắt đầu dậy sóng.

Trước Pháp thuộc:

Đầu thế kỷ 17: Chúa Nguyễn cho khai thác trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa; thành lập đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải có nhiệm vụ trấn đóng ở hai quần đảo.

Năm 1686: (Năm Chính Hoà thứ 7) Đỗ Bá Công biên soạn Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản Đồ. Tấm bản đồ có ghi chú: "Giữa biển có một dải cát dài gọi là Băi Cát Vàng (Hoàng Sa) dài tới 400 dặm... Họ Nguyễn mỗi năm và cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn...". Bản đồ vẽ trong Toản Tập An Nam Lộ có ghi địa danh Băi Cát Vàng (Hoàng Sa) trên biển khơi.

Năm 1816: Vua Gia Long chính thức chiếm đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo.

Năm 1835: Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn như khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương.

Thời Pháp thuộc

Sau hiệp ước năm 1884, Việt Nam bị đặt dưới sự đô hộ của Pháp. Pháp tiếp quản các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 9 tháng 6 năm 1885: Hiệp ước Pháp - Thanh tại Thiên Tân chấm dứt xung đột giữa Pháp và Trung Hoa, kể cả các vụ tranh chấp tại biển Đông giữa Pháp và Trung Hoa.

26 tháng 6 năm 1887: Hiệp ước Pháp - Thanh ấn định biên giới giữa Bắc Việt Nam và Trung Hoa (Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc Trung Quốc).

Năm 1899: Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đề nghị chính phủ Pháp xây ngọn hải đăng nhưng không thành v́ thiếu tiền.

Đầu năm 1907: Nhật Bản chiếm Đông Sa (Pratas).

Tháng 5 năm 1909: Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuấn phái đô đốc Lư Chuẩn đem 3 pháo thuyền ra thăm chớp nhoáng một vài đảo trên quần đảo Hoàng Sa rồi về.

Năm 1920: Mitsui Busan Kaisha xin phép Pháp khai thác quần đảo Hoàng Sa. Pháp từ chối.

Bắt đầu năm 1920: Pháp kiểm soát quan thuế và tuần tiễu trên đảo.

Ngày 8 tháng 3 năm 1921: Toàn quyền Đông Dương tuyên bố hai quần đảo: Hoàng Sa và Trường Sa là lănh thổ của Pháp.

Ngày 30 tháng 3 năm 1921: Chính quyền Nam Trung Quốc ra quyết định sáp nhập quần đảo Hoàng Sa (mà họ gọi là Tây Sa) vào đảo Hải Nam. Từ đó bắt đầu có sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Pháp về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Tranh chấp trên quần đảo Trường Sa bắt đầu từ 1930.

Bắt đầu từ năm 1925: Pháp tiến hành những thí nghiệm khoa học trên đảo do Dr. Krempt, Giám đốc Viện Hải dương học Nha Trang tổ chức. Năm 1927: Tàu De Lanessan viếng thăm quần đảo Trường Sa.

Năm 1930: Ba tàu Pháp, La Malicieuse, LAlerte và LAstrobale, chiếm quần đảo Trường Sa và cắm cờ Pháp trên quần đảo này.

Năm 1931: Trung Hoa ra lệnh khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa, ban quyền khai thác cho Công ty Anglo-Chinese Development. Pháp phản đối.

Trong suốt các năm 1931 - 1932, Pháp liên tục phản đối việc Trung Quốc (chính quyền Trung Hoa Dân Quốc) đ̣i hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Năm 1932: Pháp chính thức tuyên bố Việt Nam có chủ quyền lịch sử trên quần đảo Hoàng Sa. Pháp sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên.

Năm 1932, Đông Dương thuộc Pháp lần lượt đặt một trạm khí tượng trên đảo Woody.

Năm 1933: Quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa. Pháp đề nghị với Trung Hoa đưa vấn đề ra Toà án Quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối.

Năm 1935: Lần đầu tiên Trung Quốc chính thức công bố một bản đồ có cả 4 quần đảo trên Biển Đông là của Trung Quốc.

Năm 1938: Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa đội biên pḥng người Việt để bảo vệ đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) của quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 30 tháng 3 năm 1938: Vua Bảo Đại ra đạo dụ sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên. Đạo dụ ghi rơ: Các cù lao Hoàng Sa thuộc về chủ quyền nước Nam đă lâu đời. Chính quyền Pháp và An Nam đă dựng bia chủ quyền cho quần đảo Hoàng Sa trên đảo Pattle.

Năm 1939: Đế quốc Nhật tấn công chiếm giữ đảo.

Năm 1946: Nhật bại trận rút lui. Pháp trở lại Pattle (An Vĩnh).

Năm 1946: Dựa trên Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam, 4 tàu chiến của Trung Hoa Dân Quốc đổ bộ lên quần đảo với lư do giải giáp quân Nhật. Ngày 7 tháng 1 năm 1947, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố họ đă chiếm giữ quần đảo Tây Sa nhưng thực ra mới chỉ chiếm đảo Phú Lâm (Woody Island) mà họ gọi là đảo Vĩnh Hưng. Pháp phản đối và gửi quân Pháp-Việt trở lại đảo. Hai bên đàm phán tại Paris. Pháp đề nghị đưa ra trọng tài quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối.

Ngày 17 tháng 1 năm 1947: Pháo hạm Le Tonkinois của Hải quân Pháp đến quần đảo Hoàng Sa đ̣i quân đội Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch) rút lui, nhưng họ từ chối. Quân Pháp cho đổ bộ quân Pháp và Việt Nam chiếm giữ đảo Hoàng Sa (Pattle Island).

Tháng 4 năm 1950: Quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo Phú Lâm.

Ngày 14 tháng 10 năm 1950: Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa cho chính phủ Quốc Gia Việt Nam, do vua Bảo Đại đứng đầu.

- Ngày 6 tháng 9 năm 1951: Tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà b́nh với Nhật Bản, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu (chính phủ Bảo Đại) tuyên bố quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa thuộc lănh thổ Việt Nam. Không một quốc gia nào trong số 51 nuớc tham dự lên tiếng phản đối. Tuyên bố này xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Spratlys và Paracels). Liên Xô đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc, nhưng hội nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận.

Sau thời Pháp thuộc

Tháng 4 năm 1956: Chiếu theo Hiệp định Genève năm 1954, Việt Nam Cộng hoà thay thế Pháp nắm giữ chủ quyền trêân các quần đảo này ngoài trừ hai đảo lớn là Phú Lâm và Linh Côn đă bị Trung Quốc (CS) bí mật chiếm trước khi quân đội Việt Nam Cộng ḥa ra đóng quân.

Ngày 1- tháng 6 năm 1956: Ngoại trưởng Việt Nam Cộng Hoà Vũ Văn Mẫu tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo.

Ngày 4 tháng 9 năm 1958: Chu Ân Lai, Thủ tướng Trung Cộng công khai tuyên bố chủ quyền của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lư kể từ đất liền của Hoa Lục, đính kèm bản đồ đường ranh lănh hải bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 14 tháng 9, 1958, thủ tướng Cộng Sản Bắc Việt Phạm Văn Đồng lên tiếng công nhận bản tuyên cáo trên của Trung Quốc. (Ghi chú: chính phủ CS tại miền Bắc chỉ là một nửa nước, không đủ tư thế để xác nhận chủ quyền quần đảo Hoàng Sa ở phía Nam vĩ tuyến 17 thuộc Việt Nam Cộng Hoa. Hơn nữa đây chỉ là một văn thư ngoại giao, không có tính pháp lư).

Ngày 13 tháng 7 năm 1961: Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm ban hành sắc lệnh số 174 NV ấn định: "Quần đảo Hoàng sa thuộc tỉnh Quảng Nam.. 

Ngày 21 tháng 10 năm 1969: Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng ḥa kư nghị định số 709-BNV/HCĐP để "Sáp nhập xă Định Hải thuộc quận Ḥa Vang tỉnh Quảng Nam vào xă Ḥa Long cùng quận".

Ngày 19 tháng 1 năm 1974, truớc t́nh thế khó khăn của miền Nam Việt Nam, Trung Cộng đưa hải quân chiếm quần đảo Hoàng Sa truớc sự kháng cự mănh liệt và anh dũng của hải quân VNCH. Chính quyền Bắc Việt yên lặng không hề lên tiếng.

Ngày 14 tháng 2 năm 1975: Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng ḥa công bố Bạch Thư về các quyền lịch sử và pháp lư của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 2 tháng 7 năm 1976: Việt Nam thống nhất dưới duới chế độ cộng sản tên gọi mới là Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước. Đă có nhiều văn bản pháp lư quan trọng liên quan trực tiếp đến hai quần đảo.

Năm 1982, công ước quốc tế về luật biển được công bố. Trung Quốc và Việt Nam đă kư công ước này.

Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982 "United Nations Convention on Law of Sea" (viết tắt là UNCLOS Convention) công bố ngày 10-2-1982 tại Jamaica, 159 quốc gia kư nhận, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc. Công ước này xác định đường căn bản là lằn nước thấp nhất của thủy triều; vùng biển lănh thổ gồm 12 hải lư cách đường căn bản; vùng đặc quyền khai thác kinh tế đánh cá (200 hải lư cách bơ); vùng đặc quyền kinh tế khai thác dầu khí (200 hải lư dính liền với thềm lục địa). Theo công ước này th́ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường sa không thuộc chủ quyền của TQ.

Ngày 4 tháng 11 năm 2002: Tại Phnom Penh (Campuchia), các quốc gia trong khối ASEAN và Trung Quốc kư kết Bản tuyên bố ứng xử trên Biển Đông (DOC), đồng ư mọi tranh chấp trên biển cần được giải quyết bằng phương tiện hoà b́nh, nhằm duy tŕ ổn định ở khu vực.

NHỮNG TRANH CHẤP VƠ LỰC TRÊN BIỂN ĐÔNG (1975-1998)

(Theo Globalsecurity)

1974: Nhân lúc Việt Nam Cộng Hoà đang gặp khó khăn, Trung Quốc đưa chiến hạm chiếm một số đảo Hoàng Sa (tháng 1).

1988: Việt Nam và Trung Quốc đụng độ tại đảo Johnson reef, nhiều tàu Việt Nam bị đánh đắm, 70 thuỷ thủ Việt Nam tử thương.

1992: Việt Nam phản kháng Trung Quốc khai thác t́m dầu trên hải phận Việt Nam trong vịnh Bắc Việt, đổ bộ lên rặng san hô Da Luc. Tháng 6 đến tháng 9, tàu Trung Quốc bắt giữ khoảng 20 tàu chở hàng Việt Nam từ Hongkong.

1994: Hải quân Việt Nam và Trung Quốc đụng độ trên hải phận quốc tế tranh chấp khai thác dầu ở các lô 133, 134, 135.

1995: Trung Quốc chiếm đảo Mischief do Phi Luật tuyên bố chủ quyền. Quân Phi đẩy lùi quân Trung Quốc, phá huỷ những cột mốc do Trung Quốc cắm.

1995: Hoả lực của Đài loan bắn tàu chở hàng của Việt Nam.

1996: Tháng 1, 3 tàu Trung Quốc đụng độ với tàu Phi Luật Tân trong ṿng 90 phút gần đảo Campones.

1997: Tàu chiến Phi Luật Tân ra lệnh các tàu cao tốc và tàu đánh cá Trung Quốc rời khỏi Scarborough Shoal vàl tháng 4. Trung quốc gửi 3 tàu chiến đến quan sát đảo Panata và Kota do Phi Luật Tân chiếm đóng.

1998: tháng 1, lính Việt Nam bắn vào tàu đánh cá của Phi Luật Tân gần cồn san hô Tennent (Pigeon).

VẤN ĐỀ DẦU HOẢ Ở BIỂN ĐÔNG (BIỂN NAM HẢI)

Nhiều ngườ́ cho rằng Biển Đông,(tức Biển Nam Hải) chứa vô số tài nguyên thiên nhiên, nhiều nước muốn chiếm cứ làm của riêng. Dầu hoả, hải sản là những thứ mà mọi quốc gia đều cần. Riêng về dầu hỏa, ta hăy nh́n vào bảng so sánh trữ lượng dầu và khí đốt tại Biển Nam Hải với các vùng khác trên thế giới (thồng kê năm 1997/1998).

Biển Nam Hải 7.5 tỉ thùng dầu 145.5 ngàn tỉ cubic feet.

Vịnh Mexico 2.7 tỉ (Hoa Kỳ) 29.4 ngàn tỉ cubic feet

Vịnh Persian (Trung Đông) 674.5 tỉ thùng 29.4 ngàn tỉ cubic feet

Bắc Hải 16.8 tỉ thùng 156.6 ngàn tỉ cubic feet

Vịnh Guinea (Phi Châu) 21.5 tỉ thùng 126.3 ngàn tỉ cubic feet

Vùng biển Caspian 16-29 tỉ thùng 236-337 ngàn tỉ cubic feet

Phải chăng v́ dầu hoả mà Trung Quốc thường xuyên gây rối tại vùng biển này. Nhưng có lẽ họ cũng không thể quên rằng thế giới ngày nay không c̣n cảnh cá lớn nuốt cá bé, nuớc lớn nuốt nước nhỏ như thời phong kiến, thuộc địa xa xưa.

RỦI HOÁ MAY ???

Trung quốc sau thời đại Đặng Tiểu B́nh, kinh tế phát triển nhờ sự giúp đỡ của tư bản, nhu cầu tiêu thụ dầu hoả gia tăng, họ (Trung Quốc) t́m đủ mọi cách nhằm cung ứng nhu cầu năng lượng ấy. Đồng thời Trung Quốc c̣n cần lượng thức ăn khổng lồ để nuôi sống 1.3 tỉ dân, Biển Đông (Nam Hải) v́ thế được coi là mạch sống c̣n của họ. Ngoài ra, ai cũng biết rơ bản chất bá quyền và óc đô hộ từng đuợc chứng tỏ qua lịch sử nhiều ngàn năm. V́ thế, không ai ngạc nhiên trước những hành động xâm chiếm của họ.

Có người cho rằng, hành động Trung Quốc bất chất luật pháp quốc tế, bất chấp lẽ phải, ngang nhiên xâm phạm chủ quyền lănh thổ và lănh hăi Việt Nam quả là một rủi ro, nhưng cũng được coi đây là dịp may. Nghe thật ngịch lư nhưng có thể là sự thật. Hành động của Trung Quốc khiến nhân dân Việt Nam đoàn kết, loại bỏ mọi khác biệt để chống nạn ngoại xâm như lịch sử đă nêu gương, đất nước Việt Nam nhân cơ hội này sẽ sớm thoát khỏi chế độ cộng sản mà ai nấy đền chán ghét, nhưng nó vẫn c̣n tồn tại do bản chất cố chấp, độc tôn của đảng CSVN từng dựa vào đảng cộng sản đàn anh Trung Quốc. Nay đàn anh không c̣n t́nh nghĩa môi hở răng lạnh , những nguời cộng sảnViệt Nam c̣n sót lại sẽ nhận ra sự thật chua chát rằng các người cộng sản anh em v́ quyền lợi riêng tư mà vứt bỏ tất cả lư tưởng cộng sản cao đẹp của ḿnh, quên đi lời ông tổ từng kêu gọi lúc xa xưavô sản thế giới đoàn kết lại .!!

Hành động của Trung Quốc c̣n cho thế giới thấy rơ bản chất bá quyền nuớc lớn của họ, từng bắt các nước nhỏ làm chư hầu trong lịch sử. Và thế giới hăy đoàn kết chống hoạ bành trướng Trung Quốc.

ĐVH, Xuân 2008.

Tài liệu tham khảo:

- Nói với bạn trẻ trong và ngoài nước về biển Đông Dậy Sóng, LS Nguyễn Hữu Thống, 13 tháng 12, 2007, Cali Today News.

- South China Sea Territorial Issues, Globalsecurity.

- Quan Hệ Việt  Trung và vụ tranh chấp chủ quyền biển Đông, TS Edmund Malesky, đại học University of California of San Diego, đang nghiên cứu Việt Nam tại đại họi Harvard, đài A¨ Châu Tự Do phỏng vấn (21 Dec, 2007)

- Spratly Islands, Wikipedia Encyclopedia online, English và tiếng Việt.

- Paracels Islands Dispute, Frank Ching, Far Eastern Economic Review, Feb. 10, 1994